Monday, December 3, 2007

Ngay Man Khoa



NGÀY MÃN KHÓA

Huy Văn


Ta hào sảng thảy đời lên chiếu bạc
Chọn phong sương và tìm thú tang bồng
Cọp chưa “ liếm “ đã vung tay tự giác
K‎y’ tên vào danh sách “ Lính Đồ Bông “.

Chào mưa nắng quân trường hơn 9 tháng
Những vui buồn chẳng khác một cơn mơ
Mới hôm nào còn dáo dát, ngu ngơ
Nay “ sắp sẵn “ cho trò chơi lửa đạn .

Chào buổi sáng bánh mì đường, chà láng
Chào trưa, chiều cá mối với cải canh
Cơm Nhà Bàn thường nhai vội, nuốt nhanh
Để có chút thời gian ngồi thơ thẩn .

Chào Sân Bắn, Rù Rì, Khu Tiếp Nhận
Chào Bãi Tiên biển, sóng, gió mời trăng
Vũ Đình Trường, đêm thắp lửa truyền âm
Bài Truy Điệu gọi anh linh Tử Sĩ .

Hòn Khô với tượng đồng thao diễn nghỉ
Là hùng ca bồi đắp một niềm tin
Thanh kiếm bạc và mặt trời chiếu rạng (*)
Là lửa thiêng soi từng bước đăng trình .

Chào Đồng Đế! Ngày mai ta nhập cuộc
Làm chim non rời tổ vuợt phong ba
Chào phố Lính cuối tuần chân rảo bước
Chào Nha Trang ! Biển đẹp mãi trong ta .



(*) Phù Hiệu của Quân Trường Đồng Đế.

Thursday, October 25, 2007

Chan Dung Nguoi Linh VNCH


Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
Phạm Bá Hoa


Thưa quí vị,
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông rạch Cửu Long, xin mời quí vị lần theo dấu chân để đến, và nhận ra chân dung Những Người Lính ấy.
Xin bắt đầu với Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cơ quan đầu não của quân đội thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1952, có nhiệm vụ tổ chức, trang bị, huấn luyện, nuôi dưỡng, hoạch định, và điều khiễn quân đội thi hành nhiệm vụ bảo vệ quốc gia dân tộc. Đứng đầu quân lực là Tổng Tham Mưu Trưởng. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, lần lượt là Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Đại Tướng Cao Văn Viên, và sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc. Thời gian giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng lâu nhất là Đại Tướng Cao Văn Viên 9 năm rưỡi, và vị có thời gian ngắn nhất là Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ 18 tiếng đồng hồ!
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với 1.100.000 quân, gồm ba quân chủng Hải Quân, Lục Quân, và Không Quân. Trong Lục quân có đầy đủ các binh chủng cho nhu cầu tác chiến và yểm trợ tác chiến, và các binh sở yểm trợ từ hành chánh nhân viên, hành chánh tài chánh, đến hành chánh tiếp vận. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trải qua 4 giai đoạn:
- Giai đoạn hình thành từ năm 1952 đến 1954.
- Giai đoạn phát triển lần 1 từ năm 1955 đến 1967.
- Giai đoạn phát triển lần 2 từ năm 1968 đến 1972.
- Giai đoạn phát triển lần 3 là năm 1973.
Vào thời gian cuối cùng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có:
Lục quân, với:
- 4 Quân Đoàn trách nhiệm các Quân Khu, bao gồm các đơn vị và đại đơn vị trực thuộc: 11 Sư Đoàn Bộ Binh + hơn 20 Liên Đoàn Biệt Động Quân + 4 Lữ Đoàn Kỵ Binh Thiết Giáp + 4 Liên Đoàn Công Binh Chiến Đấu.
- 1 Sư Đoàn Biệt Động Quân thành lập vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975.
- Các tiểu đoàn Pháo Binh biệt lập, và một hệ thống Pháo Binh diện địa tại 48 Tiểu Khu, Đặc Khu, Biệt Khu.
- Địa Phương Quân, Nghĩa Quân.
- Lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, có: 1 Sư Đoàn Nhẩy Dù + 1 Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến + 1 Liên Đoàn Biệt Động Quân + Liên Đoàn Biệt Cách Dù.
Không quân, với:
- 5 Sư Đoàn tác chiến.
- 1 Sư Đoàn vận tải.
- Những Phi Đoàn đặc nhiệm.
Hải quân, với:
- Lực lượng Hải lực.
- Lực lượng Giang lực.
- Lực lượng Đặc nhiệm.
Về "binh sở yểm trợ". Trong Lục Quân có "Tổng Cục Tiếp Vận" với 8 ngành chuyên môn, có khả năng sửa chữa và tân trang toàn bộ quân dụng sử dụng chung trong các quân chủng, và khả năng xây dựng cơ sở thông thường lẫn kiến trúc đặc biệt. Không Quân có "Không Đoàn Tân Trang & Chế Tạo". Hải Quân có "Hải Quân Công Xưỡng".
Về trang bị. Khối lượng dụng cụ chiến tranh trang bị cho quân lực, gồm: 2.000.000 vũ khí cá nhân và cộng đồng. Hơn 1.000 khẩu đại bác từ 105 ly và 155 ly xe kéo, đến 175 ly cơ động, và đại bác phòng không. 1.200 xe chạy xích kể cả chiến xa M48. Hơn 1.600 chiến hạm chiến đỉnh, hoạt động trên sông, trên biển, và dọc duyên hải. Hơn 2.000 phi cơ các loại, từ tác chiến, yểm trợ tác chiến, yểm trợ tình báo kỹ thuật điện tử, đến liên lạc, và vận tải. Từ phi cơ cánh quạt, phi cơ phản lực, đến phi cơ trực thăng. Nói chung, khối dụng cụ chiến tranh trang bị cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tính đến năm 1973 trị giá khoảng 7 tỷ mỹ kim.
Về huấn luyện. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có một hệ thống quân trường, đào tạo từ người chiến binh đến chỉ huy cấp bộ đại đơn vị, đào tạo sĩ quan và chuyên viên cho các quân chủng, binh chủng, binh sở.
Về quản trị. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được quản trị bởi:
- “Cơ Quan Điện Toán" Tổng Nha Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí thuộc Bộ Quốc Phòng, quản trị toàn bộ quân phí.
- “Trung Tâm Điện Toán Nhân Viên" thuộc Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu, quản trị toàn bộ nhân viên.
- “Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận" thuộc Tổng Cục Tiếp Vận/Tổng Tham Mưu, quản trị toàn bộ quân trang quân dụng chung, từ tiếp liệu, tồn trữ, cấp phát, vận chuyển, đến bảo trì, tân trang, tổn thất, và phế thải.
- Quân chủng Không Quân, Hải Quân, có cơ quan điện toán quản trị quân dụng riêng của quân chủng.
Trong hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong cuộc “tổng công kích” của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972. Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Địa Phương Quân, Nghĩa Quân trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của "lực lượng Dân Sự Chiến Đấu", của "Lực Lượng Đặc Biệt", của những "Toán Lôi Hổ", của "Liên Đoàn Biệt Cách Dù", ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là "đường Trường Sơn", xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Họ cũng không thể hiểu sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Đánh nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là "biển cạn" Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.
Nói chung là người ngoại quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", trong khi 500.000 quân Đồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của nó là "chiến tranh tổng thể" trên chiến trường Việt Nam chúng ta, trong khi chiến lược chiến thuật của quân bạn chỉ trông vào bom đạn.
Vậy, “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa là ai?” “Họ”, là những nông dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề tự do. “Họ”, theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các trường quân sự. "Họ", tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường quân sự. "Họ", là quân nhân hiện dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hoá, là những nữ quân nhân. "Họ", là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh. "Họ" có mặt trong các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy, "Họ" phụng sự tổ quốc, phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu mến là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẻ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa: Là Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở. Là Người Lính Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù. Là lực lượng Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch. Là Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống. Là Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào. Là Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh. Là Người Lính Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Đánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Đánh địch trên chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị. "Họ" miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. "Họ" đã đánh địch đến giây phút cuối cùng! Và "Họ", xứng danh là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa".
Người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu, nhưng "Họ" chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước tiểu của "Họ" mà vươn lên. Để rồi nhiều người trong số "Họ", đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.
Đó, là "chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", mà người phương Tây chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa. Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ "xâm lăng" ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả.
"Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", hình thành "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, “thành mất chết theo thành”. Vì vậy:
''Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam”.
Houston, tháng 4 năm 2005
Bổ túc tháng 8 năm 2006


Phạm Bá Hoa

____________ _________ _________ _________ _________ _

Quan Luc VNCH


Wednesday, October 17, 2007

Chien Tranh Chinh Tri QLVNCH


Hoạt Ðộng Chiến Tranh Chính Trị Trong
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà

(Bản Việt Ngữ bài thuyết trình của Michael Do tại Hội luận về Việt Nam lần thứ 4, Ðại học Texas Tech, Lubbock, tháng 4, 2002, Bản bằng Anh Ngữ xin bấm vào link dưới đây)
http://www.vietnam.ttu.edu/vietnamcenter/events/2002_Symposium/2002Papers_files/do.htm
Hoặc bản tin trên các báo Việt ngữ về Hội Luận, xin bấm vào đây


A.- Dẫn Nhập
Sự ra đời của chủ nghĩa Cộng sản đánh dấu một khúc quanh lớn của lịch sử nhân loại. Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 và theo sau đó, sự thành lập Liên Bang Sô Viết mở ra một “chương buồn thãm và kỳ quái trong lịch sử thế giới,” theo lời của Tổng thống Ronald Reagan.
Nhờ vào sự chiến thắng đối với Ðức Quốc Xã năm 1945 và sự chiếm đóng của quân đội Sô viết trên các nước Ðông Âu, nửa tá quốc gia Cộng Sản mới ra đời đã hình thành một khối liên kết để thách thức nền dân chủ Tây phương mà Hoa Kỳ là quốc gia lãnh đạo. Với những nỗ lực kiên trì nhằm chinh phục thế giới, Liên Sô đã tuôn đổ viện trợ quân sự và kinh tế vào các nước trên năm châu để thúc đẩy cuộc chiến tranh ý thức hệ chống lại thế giới tự do. Năm 1949, Mao Trạch Ðông lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Hoa và Quân Ðội Giải Phóng đánh bại Quốc Dân Ðảng, khai sinh nuớc Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa. Với gần môt tỷ dân số, nước Trung hoa đỏ trở thành một mối đe dọa rõ ràng và nghiêm trọng đối với nền an ninh của các nước Á Châu.
Năm 1923, Hồ Chí Minh, một thanh niên đầy tham vọng, đến Moscow và được chọn vào làm việc tại Văn phòng Viễn Ðông trực thuộc hành dinh của Quốc tế Cộng sản. Ông ta sau này trở thành nhân vật lãnh đạo và thành lập Ðảng Cộng sản Ðông Dương năm 1930. Hậu quả là Hồ và các đồng chí đã phát động những cuộc chiến tranh Ðông Dương đẫm máu trong nhiều thập niên - dưới chiêu bài ái quốc- lật đổ chế độ thực dân Pháp năm 1954 và thôn tính Miền Nam năm 1975; xây dựng một nhà nuớc chuyên chính Cộng sản để hoàn thành sứ mạng bành trướng chủ nghĩa Cộng sản tại Ðông Nam Á.
B.- Chiến Tranh Việt Nam Là Một Cuộc Chiến Tranh Ý Thức Hệ.
B1. Giai đoạn trước năm 1954: Ðất nước đã bị chia đôi như thế nào.
Cuộc chiến tại Việt Nam - bất luận nó được các sử gia và các bên tham chiến gọi tên như thế nào - là một cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa những người Cộng sản miền Bắc Cộng sản và những người Quốc gia miền Nam. Trong suốt giai đoạn chiến đãu chống thực dân, Hồ Chí Minh đã tuyên bố giải tán đảng Cộng sản Ðông Dương vì ông biết rằng các nước đồng minh và nhân dân ta không hề ủng hộ Cộng sản. Sau đó ông cải danh cho nó là Ðảng Lao Ðộng. Hồ cũng thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) năm 1941, trong đó quy tụ các thành phần quốc gia yêu nước để chiến đấu chống lại nền đô hộ của Pháp. Khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt với sự đầu hàng của Nhật bản vào tháng 9 năm 1945, Hồ chớp lấy cơ hội để tuyên bố độc lập và thiết lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Lập tức ngay sau khi cầm quyền, Hồ cho tiến hành hàng loạt các hoạt dộng khủng bố - không từ thủ đoạn cấu kết với Pháp và Trung Hoa - nhằm tiêu diệt các phần tử Quốc gia trong Mặt trận. Những cuộc ám sát tập thể diễn ra ngay khi Hồ đang thương lượng với Cao ủy Pháp Jean Sainteny tại Paris và Fontainebleau. Cũng trong thời điểmđó, tại miềm Nam có sự hiện hữu của Quốc gia Việt Nam dưới quyền của cựu hoàng Bảo Ðại. Với sự viện trợ quân sự dồi dào của Trung Cộng, Hồ Chí Minh sau cùng đã đánh thắng quân Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào tháng 5 năm 1954. hội ệp định Geneve tháng 7, 1954 chia cắt lãnh thổ Việt Nam làm hai quốc gia có hai thể chế đối nghịch. Nó cũng quy định việc rút quân đội Cộng sản về phiá Bắc Vĩ tuyến 17, và quân đội Pháp vào Nam để sau đó Pháp trao quyền lại cho một nước Cộng Hoà Việt Nam tân lập.
B2. Thời kỳ sau 1954: Chiến tranh đã phát khởi từ đâu?
Thay vì rút hết quân ra Bắc, Hồ Chí Minh đã để lại hàng ngàn cán bộ nằm vùng tại các thôn xóm miền Nam. Nhiều người còn thâm nhập vào guồng máy chính quyền và quân sự. Những cán bộ nằm vùng lấy vợ miền Nam để tạo mối quan hệ gia đình và cơ sở chính trị chuẩn bị trước cho các cuộc nổi dậy về sau này. Cuối thập niên 1950, họ lác đác xuất hiện tại các vùng hẻo lánh và khởi động chiến tranh du kích chống lại chính quyền đương kim. Tháng 10 năm 1957, theo lệnh của Hà Nội, họ tổ chức 37 đại đội quân có vũ trang. Vào tháng 12 năm 1960, Ðại hội toàn quốc lần thứ Ba đảng Lao Ðộng họp tại Hà Nội ban hành nghị quyết nhắm vào ba mục tiêu chiến lược: (1) Xây dựng chủ nghĩa xã hội tại miền Bắc, (2) Tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam, và (3) tiến tới thống nhất đất nước. Nghị quyết này đưa đến sự thành lập Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Mặt trận bù nhìn này có ba cơ quan (1) Giải phóng quân miền Nam, (2) Ðảng Nhân dân Cách mạng, và (3) Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam. Những người cầm đầu các tổ chức này được lựa chọn từ các nhân vật bất mãn tại miền Nam để chúng có thể mang một mặt nạ kháng chiến của dân chúng miền Nam nổi lên chống lại chính quyền và xâm lược Mỹ. Trên thực tế, quyền hành tối cao nằm trong tay Trung Ương Cục miền Nam, là một cơ quan lệ thuộc Trung ương đảng Lao động Việt Nam. Nó được lãnh đạo bởi các ủy viên cao cấp trong bộ Chính trị đảng như Lê Duẫn, Phạm Hùng, Nguyễn Chí Thanh, vân vân. Các thành viên Trung Ương Cục cũng là các uỷ viên ban Chấp hành Trung Ương đảng. Sau 1960, Hà Nội chuyển quân chính quy vào miền theo đường mòn Hồ Chí Minh với mức độ hàng ngàn quân trong một tháng, cùng với cơ man nào là vũ khí, đạn dược, và các quân dụng khác.
B3. Ai đã đánh cắp Chính nghĩa Dân tộc?
Mặc dù cuộc chiến tranh do những người Cộng sản khởi động để phục vụ cho mục tiêu nhuộm đỏ phần đất Ðông Nam Á Châu, nó đã đươc ngụy trang bằng chiêu bài chiến tranh ái quốc chống lại xâm lăng từ phương Tây. Người dân Việt Nam hoàn toàn xa lạ với chủ nghĩa Cộng sản hoặc Tư bản. Ðối với họ, những người Pháp đã ra đi và những người Mỹ mới đến cũng giống nhau. Mặc dù chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã hết sức cố gắng để xây dựng một nền móng dân chủ; mặc dù hội ến pháp năm 1956 đã dọn con đường đi đến tự do, và tạo mọi cơ hội cho người dân để bắt đầu một cuộc sống mới hạnh phúc và đầy đủ; chính phủ miền Nam vẫn không thể nào làm cho những người du kích hội ểu được bản chất cuộc chiến, và cũng không thuyết phục được người dân quê để họ ngừng yểm trợ cho Việt Cộng. Ngoài ra, một tỷ lệ dân số 80% không theo đạo Thiên chúa không sẵn lòng ủng hộ Tổng thống Diệm vì ông là người theo Thiên chúa giáo. Tám mươi năm triền miên dưới chế độ thực dân Pháp đã đưa đến sự phân hoá trong các tầng lớp dân chúng trên cơ sở tôn giáo, địa phương, chủng tộc, và giai tầng xã hội. Chính vì lý do này, mà Tổng thống Diệm đã từ chối không tiến hành tổng tuyển cử năm 1956 theo quy định của hội ệp dịnh Geneve.
Hình thái Chiến tranh Nhân dân do Mao Trạch Ðông đẻ ra bao gồm cả quân đội, dân binh và toàn thể các tầng lớp dân chúng. Cộng sản huy động tất cả tài nguyên nhân vật lực để phục vụ cho cuộc chiến bao trùm lên mọi lãnh vực của cuộc sống. Trong khi đó, Quân lực Việt Nam Cộng Hoà, được huấn luyện để chiến đãu trong cuộc chiến tranh quy ước, đã khó tiếp cận được với dân chúng trong vùng địch kiểm soát. Ngay cả dân chúng trong vùng quốc gia cũng thờ ơ với cuộc chiến.
Hồ Chí Minh, trong nhiều bài viết đã khẳng định chiến tranh Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời được của cuộc cách mạng vô sản thế giới.” Thế nhưng Cộng sản luôn luôn chối cãi về sự hiện diện của họ tại miền Nam cho tới sau khi họ đã chiếm được miền Nam năm 1975. Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam chỉ sống thêm được 14 tháng trước khi bị Hà Nội khai tử bằng sự khai sinh nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ngày 2 tháng 7 năm 1976. Trong Ðại hội toàn quốc lần thứ 4 vào tháng 12 năm 1976, đảng đã lấy lại danh xưng Ðảng Cộng sản Việt Nam và quyết định xây dựng “Chủ nghĩa Xã hội” trên toàn quốc. Thế là một màn đêm ảm đạm vô tận đã trùm lên cuộc sống và tương lai hàng chục triệu dân miền Nam. Ðối với những ai còn hoài nghi về chính nghĩa, thì đã quá muộn màng.
Không lâu sau ngày miền Nam thất thủ, không chỉ quần chúng bình thường, mà ngay cả những người từng ủng hộ Việt Cộng đã bắt đầu nhận thức rằng họ đang mất một điều quý giá nhất trong đời. Ðó là Tự Do. Với hàng trăm ngàn quân chính quy Bắc Việt chiếm đóng trên toàn lãnh thổ miền Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã thấy trước được ngày cuối cùng của họ. Mục tiêu cuối cùng của cuộc chiến kéo dài 21 năm chỉ là để hình thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa dưới sự độc tài toàn trị của đảng Cộng sản. Ngoại trừ vài thành viên mặt trận là đảng viên Cộng sản, những người còn lại đã thất vọng thấy mình bị lừa bịp và phản bội.
C.- Hoạt Ðộng Chiến Tranh Chính Trị Trong Chiến Cuộc Việt Nam
Nhận rõ yếu điểm của mình, năm 1965, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà thu nhận khái niệm và cơ cấu Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) trong Quân đội Trung Hoa Quốc Gia. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, vì trong công luận của cộng đồng thế giới và ngay cả Hoa Kỳ, đã có sự thông tin bị bóp méo theo thiên kiến về diễn tiến tại Việt Nam. Sự thiếu sót một guồng máy tuyên truyền hữu hiệu và quán triệt là một trong những nguyên nhân chính dẫn dến sự thất bại của Việt Nam Cộng Hoà. Phiá Cộng sản thành công hơn trong việc cướp lấy chính nghĩa nhờ hệ thống hoạt động chính trị đầy kinh nghiệm trong chính phủ và quân đội của họ. Theo lời những nhà lãnh đạo Cộng sản sau chìến thắng 1975: “Chúng tôi không thắng ở chiến trường, mà thắng ngay tại Washington D.C.”
C1. Vai Trò Chính Trị Trong Quân Ðội Cộng Sản.
Từ một nhóm nhỏ nhoi gồm 40 người trong Ðội Tuyên truyền Giải phóng quân thành lập năm 1944, với sự sáp nhập của các đơn vị kháng chiến quốc gia khác trong quá trình chống Pháp, Quân đội Nhân dân Việt Nam (QÐND) đã trở thành một trong những đội quân lớn trên thế giới vào cuối thế kỷ 20. Là một công cụ bạo lực của đảng Cộng sản, nó luôn được củng cố để bảo đảm sự tuyệt đối trung thành đối với đảng. Trước khi khởi sự chiến dịch Ðiện Biên Phủ, và song song với chiến dịch cải cách ruộng đất tại miền quê Bắc Việt, đảng đã phát động chương trình chỉnh huấn để loại bỏ các sĩ quan không thuộc thành phần bần nông vô sản và lao động. Oái oăm thay, hầu hết (nếu không là tất cả) các lãnh tụ trong BộChính trị Cộng sản đều thuộc các giai cấp tư sản và địa chủ!
Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân thường là một trong 5 người cao cấp nhất trong Bộ Chính trị. Bộ Tổng tham mưu QÐND có ba Tổng cục: Tham mưu, Hậu cần, và Chính trị. Bên cạnh bộ Tổng tư lệnh có Ban Bí thư Quân ủy Trung ương là cơ quan đảng. Tổng cục Chính trị chỉ là cơ quan có tính chất hành chánh. Quân ủy Trung ương mới là cơ quan lãnh đạo để bảo đảm quân đội theo đúng chính sách do đảng ban hành. Theo hệ thống hàng dọc, bên dưới là các đảng ủy quân đoàn/ quân khu, sư đoàn, trung đoàn/tỉnh đội, vân vân. Cấp nhỏ nhất là các chi bộ đảng, tổ đảng cấp đại đội/xã đội. Các bí thư chi bộ, đảng bộ thường kiêm luôn sĩ quan chính trị (chính ủy hay chính trị viên) của đơn vị. Họ chịu trách nhiệm về tinh thần binh sĩ trong đơn vị. Các bí thư đảng ủy luôn luôn có quyền hành tuyệt đối, cao hơn các trưởng đơn vị. Họ là những người quyết định công việc của đơn vị. Họ tổ chức các chương trình chính huấn, động viên tinh thần; chủ trì các buổi phê bình và tự phê bình; phát động tuyên truyền nhắm về địch và quần chúng. Các hoạt động quân sự và xã hội tạo thành một mối liên quan chặt chẽ. Trong quân đội Cộng sản, không có sự cách biệt giữa các mục tiêu chính trị và quân sự. Theo Giáo sư Douglas Pike, hầu hết binh sĩ trong quân đội nhân dân miền Bắc và Giải phóng quân miền Nam không phải là Cộng sản. Họ không biết gì về chủ nghĩa Mác Xít. Các chính trị viên dạy họ về lịch sử đãu tranh của dân tộc chống ngoại xâm để khích động tinh thần ái quốc. Cho nên những người lính này tin rằng họ đang chiến đấu cho độc lập của tổ quốc và tự do của người dân. Họ được chuẩn bị rất kỹ càng trước khi tham gia các cuộc tấn công. Họ được khích động bởi chủ nghĩa anh hùng qua các tấm gương của những đồng chí đã chiến đấu dũng cảm dù bị thương tích trầm trọng. Người ta dạy cho họ biết nếu để bị bắt, họ sẽ bị địch tra tấn và giết chết một cách dã man. Họ cũng biết rằng gia đình thân quyến của họ sẽ gặp sự phiền lụy nếu họ đào ngũ hay chạy về với chính phủ miền Nam. Họ chịu đựng những năm dài trốn tránh trong các rừng rậm hay khu sình lầy với mức sống rất sơ khai. Thức ăn chỉ toàn gạo muối, lâu lâu có chút cá khô. Họ đối diện ngày đêm với rắn độc, muỗi mòng, và sự kinh hoàng của bom đạn từ trên trời cao có thể rơi xuống bất cứ lúc nào và gieo sự hủy diệt. Họ chẳng có chút hy vọng nào trở về với những người thân yêu. Ðối với họ, sự thắng trận đem lại tất cả; bằng ngược lại, cái chết chỉ là sự giải thoát khỏi một cuộc sống khốn khổ. Nói cách khác, họ chỉ có một sự lựa chọn độc nhất: Thắng trận hay là chết.
Tổ chức của quân giải phóng miền Nam cũng tương tự như quân đội nhân dân miền Bắc ngoại trừ sự sử dụng các danh xưng, vì các đảng viên Cộng sản dấu nhẹm lai lịch đảng của họ. Những người giải phóng quân này chẳng ưa gì Cộng sản, và họ không hay biết rằng họ đang chiến đấu cho chủ nghĩa Cộng sản. Trong nhiều trường hợp, các lãnh tụ mặt trận Giải phóng lẫn lộn giữa Quốc gia và Cộng sản. Họ mơ ước đến một miền Nam độc lập với một chế độ xã hội tốt đẹp cho đến khi bừng tỉnh sau năm 1975.
C2. Hoạt Ðộng Tâm Lý Chiến Trong Quân Ðội Hoa Kỳ
Vào đầu năm 1956, Hoa Kỳ bắt đầu huấn luyện cho Quân đội Việt Nam Cộng hoà theo khuôn mẫu của họ; mà chủ yếu là chuẩn bị cho đội quân non trẻ này để đương đầu với một cuộc chiến quy ước ở tầm vóc trung bình, thay vì cho cuộc chiến chống nổi loạn mà sau này đã xảy ra. Phái bộ Cố vấn Hoa Kỳ (MAG-V) sau này là Bộ Tư lệnh Viện trợ và Cố vấn (MAAG) là cơ quan độc nhất của quân đội Mỹ hiện diện ở miền Nam trước khi có cuộc đổ quân chiến đấu vào năm 1965. Từ con số vài trăm lúc ban đầu, nhân viên cố vấn Mỹ gia tăng lên 23500 vào cuối năm 1964; và quân chiến đấu gia tăng lên mức cao nhất là 525000 vào cuối năm 1968.
Mặc dù chiến tranh Việt Nam là một cuộc chiến lâu dài nhất và cũng mang lại nhiều tranh luận nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, quân đội Mỹ không có các hoạt động chiến tranh chính trị tác động vào binh sĩ của họ -là những thanh niên đang từ giã cuộc sống tiện nghi để lao vào một chiến trường đẫm máu và phức tạp nhất. Dù họ ý thức được nhiệm vụ mình, nhưng đôi lúc cũng băn khoăn không rõ về chính nghĩa của cuộc chiến. Họ được huấn luyện để đánh trong trận chiến có ranh giới bạn, địch rõ rệt; nay lại phải đương đầu với thứ chiến tranh nhân dân khi mà một người dân bình thường mới vẫy tay chào trước mặt đây, nhưng vừa quay đi đã bắn phát súng vào lưng mình. Kẻ thù của anh có thể là cô gái mới ngủ với anh đêm qua, có thể là em bé mà anh vui vẻ phân phát những viên kẹo. Anh mơ hồ về cuộc chiến tranh lạnh mà anh phải rời xa gia đình êm ấm hàng ngàn dặm để đánh nhau với những người mà anh tưởng là vô hại đối với anh.
Thêm vào đó, các cơ quan truyền thông đại chúng tại Mỹ đã loan những tin tức sai lạc có dụng ý nhằm lôi cuốn thính giả là những ngườì càng lúc càng tỏ ra thiếu kiên nhẫn với cuộc chiến lâu dài, những phong trào phản chiến. Lại thêm tuyên truyền xuyên tạc của phía Cộng sản.
Báo chí Mỹ đã phóng đại những sai sót của quân đội đồng minh trong khi che đậy những tội ác của Cộng sản. Họ sưả đổi kết quả các trận đánh lớn. Chiến thắng rực rỡ của chúng ta trong trận Mậu thân đã bị xuyên tạc thành sự thất bại vì bị xem là không tiên đoán được cuộc tấn công của Cộng quân.
Trở lại Việt Nam, các cấp chỉ huy trong quân đội Mỹ ý thức được vai trò quan trọng cuả tuyên truyền nhằm thu phục nhân tâm. Họ hết lòng ủng hộ các hoạt động chiến tranh tâm lý (PSYOP) mà quân đội phối hợp với sở Thông tin Hoa Kỳ (JUSPAO). Hai mục tiêu chính của Psyop là nhằm giới thiệu các mặt mạnh của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, và chương trình Chiêu hồi nhắm kêu gọi cán binh Cộng sản về với Quốc gia. Psyop, về căn bản, nhắm vào các đối tượng là binh lính Việt Cộng, bộ đội Bắc Việt, và thường dân ở cả hai miền.
Năm 1967, Liên đoàn 4 Tâm lý chiến có 4 tiểu đoàn bắt đầu hoạt động yểm trợ trực tiếp quân đội Hoa Kỳ và Ðồng minh tại 4 vùng chiến thuật. Họ tham gia vào các cuộc hành quân bình định bằng các dịch vụ y tế, phân phát truyền đơn, bích chương, chiếu bóng, tham khảo dư luận, và thu lượm tin tức về vũ khí, nơi cất dấu lương thực, hạ tầng cơ sở cuả địch quân. Các đơn vị Lực lượng Ðặc biệt Mỹ hoạt động tâm lý chiến nhắm vào các người thiểu số cao nguyên Trung phần.
Trong cuốn sách “Cease Resistance: It's Good for You,” Stanley Sandler vạch ra yếu điểm của Tâm lý chiến Hoa Kỳ. Theo ông, chỉ có không đến 40% nhân viên Tâm lý chiến được huấn luyện về nghành của mình; quân nhân Mỹ chỉ phục vụ 1 năm tại Việt Nam, như thế chưa đủ thì giờ cho họ hiểu biết tình hình; các sĩ quan chỉ huy chiến đấu Mỹ không thông hiểu về nhiệm vụ và giá trị của Tâm lý chiến. Ông kết luận: “Hoạt động Tâm lý chiến của quân đội Hoa Kỳ có thể gọi là thành công cục bộ, tạm thời mà thôi.”
C3. Chiến Tranh Chính Trị Trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Giai đoạn từ 1949 đến 1955 - Quân đội Quốc gia Việt Nam
Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1949 để đánh lại quân Việt Minh do Cộng sản chỉ huy. Sơ khởi có 150000 quân nhân dưới sự chỉ huy của sĩ quan Pháp và trang bị cổ lỗ. Dù Việt Nam có hàng ngàn năm lịch sử chiến đấu với Trung Hoa để sống còn, người ta vẫn coi binh nghiệp là thấp kém nhất trong các giai tầng xã hội (Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh). Những người lính trong quân đội Quốc gia không ưa Pháp, cũng chẳng ưa Quốc trưởng bù nhìn Bảo Ðại. Trong thời này, hoạt động tâm lý chiến độc nhất là “Tác Ðộng Tinh Thần” do phòng 5 đảm trách.
Giai đoạn từ 1955 đến 1965 - Quân Ðội Việt Nam Cộng Hoà.
Năm 1955, ông Ngô Ðình Diệm truất phế Bảo Ðại qua một cuộc trưng cầu dân ý và thiết lập nền Cộng Hoà Việt Nam. Quân đội Quốc gia VN được cải biến và đổi tên là Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Khi người Pháp rút đi, đội quân Cộng hoà này chỉ có 4 sư đoàn được huấn luyện không đồng bộ, chỉ huy bởi một nhóm nhỏ gồm sĩ quan và hạ sĩ quan thiếu kinh nghiệm. Người Mỹ đã đảm nhận việc huấn luyện và viện trợ rộng rãi để quân đội VNCH theo khuôn mẫu quân đội Hoa Kỳ.
Khi còn theo khuôn mẫu quân đội Pháp, phòng 5 là cơ quan duy nhất lo về chiến tranh tâm lý. Năm 1954, Trung tá Mỹ Edward Lansdale, người nổi tiếng nhờ những thành công của ông chống lại 'chiến tranh nhân dân' tại Philippines, được Việt Nam Cộng Hoà mời làm cố vấn chính thức. Lansdale định nghĩa dân vận là: “cách hành xử trong tình anh em của những quân nhân trên các mặt trận, mà Mao Trạch Ðông và Võ Nguyên Giáp đã dạy cho binh sĩ của họ.” Ông cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xây dựng một căn bản chính trị làm nền tảng cho các hoạt động khác. Lansdale đề nghị thêm những nỗ lực đặc biệt từ quân đội Mỹ và Việt Nam trong lãnh vực tâm lý chiến ngõ hầu chiến thắng Cộng sản. Sau này ông trở thành cố vấn và là bạn của Tổng thống Diệm. Theo đề nghị của ông, Nha Chiến Tranh Tâm Lý đã được thành lập, trực thuộc Bộ Quốc Phòng.
Bộ Tổng tham mưu là cơ quan chỉ huy cao nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Tại mỗi cấp của quân đội, từ trên xuống, có phòng 5, ban 5 chuyên lo hoạt động chiến tranh tâm lý. Nhưng các hoạt động này chỉ giới hạn trong việc truyền thanh, ấn loát, chiếu bóng, và trình diễn văn nghệ. Các cán bộ tâm lý chiến thường được chọn từ những sĩ quan bị thất sũng và thiếu năng lực theo cách nhìn của các cấp chỉ huy.
Giai đoạn từ 1965 đến 1975 - Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
Từ 1965, quân đội được cải tổ lại. Bộ Tổng tham mưu vẫn có 5 cơ quan trực thuộc; mỗi cơ quan đặt dưới quyền của một Tổng tham mưu phó: Hành quân, Nhân viên, Tiếp vận, Huấn luyện, và Chiến tranh Chính trị. Ba cơ quan sau được tổ chức thành 3 tổng cục với các cục trực thuộc (xem sơ đồ)
Dựa trên khái niệm Chiến tranh Chính trị bao gồm 6 hình thái chiến tranh: Tư tưởng chiến, Tổ chức chiến, Tâm lý chiến, Tình báo chiến, Mưu lược chiến và Quần chúng chiến; Tổng cục CTCT được tổ chức thành 5 cục và một trường Ðại học CTCT với chức năng như sau:
1.- Cục Chính huấn để tác động tinh thần và khơi dậy lòng yêu nước của binh sĩ. Cục có một trung tâm huấn luyện cán bộ CTCT và hàng chục toán Công tác Chính huấn giáo dục binh sĩ qua các chương trình sinh hoạt vừa học tập vừa văn nghệ gọn nhẹ.
2.- Cục Tâm lý chiến đảm trách tuyên truyền hướng về địch và công tác dân vận. Ngoài ra còn những công tác bao gồm báo chi, giải trí cho quân nhân. Cục có một Biệt đoàn Văn nghệ Trung ương hùng hậu với hàng trăm nghệ sĩ nổi tiếng đang động viên trong quân ngũ.
3.- Cục Xã hội trách nhiệm săn sóc gia đình binh sĩ qua vấn đề gia cư, trường học, và y tế. Cục có một trường Nữ trợ tá Xã hội đào tạo sĩ quan và hạ sĩ quan. Tại các khu gia binh, các nữ sĩ quan xã hội chăm lo đời sống gia đình binh sĩ. Họ cũng thăm viếng ủy lạo thương bệnh binh tại các quân y viện và chăm lo gia đình tử sĩ. Cục Xã hội quản lý các nha Tuyên úy Công giáo, Phật giáo và Tin lành.
4.- Cục An ninh Quân đội lo phần phản gián và an ninh nội bộ các đơn vị. Dù trực thuộc tổng cục CTCT, cục ANQÐ hoạt động độc lập và là cơ quan có quyền lực nhất trong quân đội. Cục có nhiệm vụ ngăn ngừa sự xâm nhập của địch vào hàng ngũ mình. Tuy nhiên thành quả của cục chỉ đạt được một mức độ hạn chế.
5.- Cục Quân tiếp vụ cung cấp cho quân nhân hàng hoá nhu yếu miễn thuế. Tuỳ theo gia cảnh, mỗi quân nhân hàng tháng mua số lượng thuốc lá, sữa, đường, vật dụng gia đình, vân vân với giá thường chỉ bằng 30 đến 50% giá thị trường.
6.- Trường Ðại học Chiến tranh Chính trị, thành lập năm 1966 khi các cấp lãnh đạo nhận thức sự cấp bách phải đào tạo một lớp sĩ quan trẻ để đảm trách hữu hiệu các hoạt động CTCT tại các đơn vị. Trước đó đã có Trung tâm Huấn luyện Cán bộ CTCT đào tạo cán bộ từ các quân nhân tại ngũ.
Trường ÐH/CTCT tuyển thanh niên có bằng Tú tài qua một kỳ thi tuyển. Những thanh niên này phải qua một chương trình huấn luyện 2 năm để trỏ thành Thiếu úy hiện dịch trong quân lực. Chương trình học nhấn mạnh về khoa học xã hội và chính trị. Sinh viên theo học quân sự hàng năm tại trường Võ bị Quốc gia Việt Nam để có thể trở thành một trung đội trưởng bộ binh và ít nhiều về chiến thuật cấp đại đội. Họ nghiên cứu học thuyết Mác xít, chủ nghĩa Cộng sản, lịch sử chiến tranh cận đại và các kỹ thuật CTCT.
Sau khi tốt nghiệp, các tân sĩ quan được bổ nhiệm làm đại đội phó các đơn vị chiến đãu, hay trưởng ban CTCT tại các chi khu. Khoá đầu tiên tốt nghiệp vào tháng 5 năm 1969, theo sau là 5 khóa nữa cho đến ngày thất thủ năm 1975. Trường đào tạo khoảng 200 sĩ quan mỗi khoá. Ngoài ra trường còn cung cấp các chương trình căn bản, trung cấp, cao cấp cho các sĩ quan đang làm công tác CTCT.
D.- Các Thuận Lợi Và Bất Thuận Lợi
D1.- Thuận Lợi
Ngành CTCT của Quân lực VNCH được tái tổ chức nhờ sự giúp đỡ và cố vấn của Quân đội Trung Hoa Dân quốc. Sau lần thất bại năm 1949, họ đã học bài học cay đắng trong việc đối phó với Cộng sản, và họ rất sốt sắng truyền lại kinh nghiệm cho Việt Nam, một đồng minh thân cận nhất. Cũng nhờ có chương trình Chiêu hồi, quân đội VNCH đã học thêm nhiều từ các hồi chánh viên mà nhiều người từng là cán bộ tình báo và chính trị cao cấp trong quân đội Cộng sản.
Có nhiều thành tựu đáng kể từ khi thành lập Tổng cục CTCT. Các đơn vị Ðịa phương quân và Nghĩa quân trở nên hữu hiệu hơn trong các chiến dịch bình định nhằm quét sạch hạ tầng cơ sở cuả Cộng sản. Trước khi tham dự Hoà đàm Paris năm 1968, các sinh viên sĩ quan khoá 1 được gửi đội hoạt động tại các chi khu để củng cố tinh thần binh sĩ và hậu thuẫn cho lập trường của chính phủ.
Các đơn vị bộ binh, rãnh tay trong công tác lãnh thổ, đã tham dự vaò các chiến dịch tấn công lớn với sự yểm trợ của Không quân Mỹ. Sư đoàn 5 Bộ binh là một thí dụ. Từ một đơn vị yếu kém nhất, sau chiến dịch Chân trời mới khởi sự năm 1968, đã trở thành đơn vị giỏi thứ hai trong mười một sư đoàn. Ðó là nhờ công sức của các sĩ quan chỉ huy và 39 tân sĩ quan khoá 1 CTCT. Các sĩ quan xuất thân từ trường Ðại học CTCT được huấn luyện thuần thục và có tinh thần. Họ có khả năng cả về quân sự lẫn CTCT. Rất nhiều người sau đó đã trở thành những cấp chỉ huy chiến đấu giỏi.
D2.- Bất lợi
Thiếu sự yểm trợ của Hoa Kỳ.
Vì không có cơ quan tương đương trong quân lực Hoa Kỳ, nghành CTCT Việt Nam đã không có đủ tài khoản để điều hành. Tổng cục phải dùng tiền viện trợ dành cho Cục Tâm lý chiến để trang trải hoạt động cho toàn tổng cục. Ðó cũng là lý do giải thích tại sao tổng cục CTCT sáp nhập cục Quân tiếp vụ vào cơ cấu tổ chức của mình: để lấy thêm ngân sách. Sự khác biệt về văn hoá đã làm cho các cố vấn Hoa Kỳ không hiểu rõ thực trạng của cuộc chiến tranh nhân dân do Mao và Giáp đề xướng. Sự thiếu thốn tài chánh và yểm trợ từ phía Hoa Kỳ làm cho nghành CTCT trở nên yếu kém so với các nghành khác, và cản trở họ thực thi những dự án quan trọng.
Trách nhiệm và quyền hạn
Người lính miền Nam Việt Nam, trong gần 50 năm đã chiến đấu liên tục, chống Pháp, chống Nhật, chống Việt Minh, rồi lại chống Việt Cộng và quân Bắc Việt. Dù trên nguyên tắc, họ phải thi hành nghĩa vụ quân dịch trong ba năm, họ đã chiến đấu lâu dài sau khi người bạn đồng minh Hoa Kỳ đã ra về sau một năm phục vụ tại Việt Nam. Trong cuốn The Vietnam Experience, Tim Page đã miêu tả: 'Ðiều kiện sống của họ rất kém. Họ ăn cơm với cá khô và ít canh rau. Ðể vui chơi, họ chỉ có chút rượu đế, đánh bài, và lâu lâu có xi nê.' Người lính lãnh đồng lương nhỏ nhoi để nuôi cả gia đình hoàn toàn lệ thuộc vào họ. Người cán bộ Chiến tranh Chính trị chẳng thể làm gì nhiều để giúp đỡ họ. Chương trình cung cấp nhà ở và học đường chỉ giúp được một tỷ lệ nhỏ các gia đình thiếu thốn.
Người lính được quy định 15 ngày phép hàng năm và phép đặc biệt cho các vấn đề hệ trọng của gia đình. Nhưng trên thực tế, do nhu cầu hành quân và sự ngăn ngừa nạn đào ngũ, việc đi phép bị hạn chế rất nhiều. Quân số một đại đội bộ binh khi cao nhất chỉ khoảng 100 người (160 theo cấp số), trong đó có cả chục người thuộc thành phần bất khiển dụng do bệnh tật hay các vết thương chưa lành hẳn. Tuy nhiên, họ phải thực hiện nhiệm vụ như một đơn vị đầy đủ quân số.
Trong khi các sĩ quan chính trị trong quân đội Bắc Việt là các đảng viên Cộng sản và có quyền vượt hẳn các đơn vị trưởng, sĩ quan CTCT trong quân đội miền Nam không theo một đảng nào. Vì thế họ không có quyền lực. Ở cấp đại đội, họ là người thứ hai trong đơn vị; nhưng càng lên cấp cao hơn, họ là người lép vế nhất trong các sĩ quan tham mưu. Ðại đa số các sĩ quan chỉ huy lại không thấy tầm quan trọng của hoạt động CTCT. Ngoài ra, các sĩ quan CTCT thế hệ cũ lại có ít kiến thức về CTCT và là một trở lực lớn cho những dự án sáng tạo và năng động. Những sĩ quan trẻ trong nghành CTCT thường ưu tư về sự thăng tiến so với các sĩ quan các nghành khác.
Bất ổn chính trị, nạn tham nhũng, và lãnh đạo bất năng.
Dù trong hoàn cảnh chiến tranh và phải đương đầu với kẻ thù nguy hiểm, các nhà lãnh đạo VNCH không có khả năng thiết lập một sự ổn định về chính trị nội bộ. Họ tranh chấp nhau vì quyền lực, bổ nhiệm vào vị trí then chốt những người họ sũng ái thay vì những người tài ba. Sau chiến thắng của quân lực VNCH muà hè năm 1972, Tổng thống Thiệu đã quay mũi dùi hướng về các thành phần đối lập. Ông thành lập đảng Dân chủ như một đảng cầm quyền dù rằng nó thiếu nền móng và không được ai ủng hộ. Nạn tham nhũng trở nên nghiêm trọng trong mọi cấp. Các chức vụ ngon lành phải mua bằng tiền. Hậu quả là những người này lạm dụng quyền hạn để lấy lại sở hụi, hay tệ hơn, làm giàu cho chính mình. hiện tượng lính ma là phổ biến trong các đơn vị bộ binh và địa phương quân. Các sinh viên khoá 4 CTCT khi về hoạt động tại quân khu 4 đã phanh phui nạn tham nhũng, đưa đến sự cách chức vị tư lệnh quân khu và càc đồng loã của ông. Trong hoàn cảnh tham nhũng và tranh chấp quyền lực như thế, khó lòng mà thuyết phục quân lính rằng họ đang chiến đãu cho quê hương và dân tộc.
E.- Kết Luận
Nếu so với hệ thống chính trị đầy kinh nghiệm của quân đội Bắc Việt, nghành CTCT trong Quân lực VNCH là một tổ chức lỏng lẻo và ít hiệu năng. Các cán bộ CTCT không có quyền hành và không được sự hỗ trợ của chỉ huy. Cho dù với uy thế quân sự và hoạt động CTCT hữu hiệu, chúng ta cũng khó thắng cuộc chiến nếu những kẻ thù bên trong phát triển từ những sai lầm của chúng ta. Chiến tranh chính trị phải đi đôi với một hệ thống chính trị mạnh và ổn định.
Ðối vớì Hoa Kỳ và Việt Nam, thông tin sai lạc là một vấn đề nghiêm trọng làm cho hai chính phủ mất sự hậu thuẫn của dân chúng. Cộng sản đã lợi dụng tự do ngôn luận của chúng ta để phát động chiến tranh tâm lý ngay trên đất chúng ta, trong lúc tâm lý chiến của chúng ta không thể xâm nhập được vào xã hội của họ.
Hệ thống thông tin của chính phủ và quân lực Việt Nam Cộng Hoà đã không gở được mặt nạ Hồ Chí Minh và đồng bọn. Nghiêm trọng hơn, chúng ta đã có nhiều sai lầm làm thay đổi tình thế. Sau trận Tết Mậu Thân, đặc biệt là những năm đầu thập niên 1970, quân lực VNCH đã trưởng thành. Từ 80 đến 90% cơ sở hạ tầng của Việt Cộng bị lộ diện và tiêu diệt. Hàng chục ngàn cán binh Việt cộng bị giết trong các trận đánh đẫm máu trên khắp lãnh thổ. Những người may mắn sống sót phải chạy trốn vào những mật khu bên kia biên giới Việt-Kampuchea. Nếu chính phủ VNCH biết lợi dụng những chiến thắng đó để củng cố, nâng cao an sinh xã hội để phục vụ người dân tốt hơn, nâng cao đời sống binh sĩ và gia đình, đối xử tử tế với các Hồi chánh viên; chắc chắn Cộng sản không có cơ hội đặt chân trở lại miền Nam nữa.
Giáo sư Nguyễn Văn Canh, một nhân vật lãnh đạo đảng Ðại Việt, trong bản báo cáo năm 1973, đã báo động với chính quyền về việc Việt Cộng tại vùng 4 đang tái tổ chức và trang bị. Các đơn vì nay, từ năm 1968, đã không còn ai nghe đến, nay đang được tăng cường bởi hàng trăm hồi chánh viên và các cán bộ VNCH cấp xã ấp là những nạn nhân của sự ngược đãi bất công. Lời cảnh cáo của giáo sư Canh bị Nguyễn Văn Thiệu che tai vì ông ta lưu tâm đến các quyền lợi riêng hơn là quyền lợi của tổ quốc đang lâm nguy. Ông ta đang phải đối phó với phong trào chống tham nhũng do báo giới và các dân biểu, nghị sĩ đối lập chủ xướng.
Nạn tham nhũng cũng là một nguyên nhân làm suy yếu quân đội. Quân Cộng sản hẳn cũng có những vấn đề tương tự của họ, nhưng họ che đậy được nhờ hệ thống truyền thông nhà nước một chiều.
Vào cuối năm 1972, khi Hà Nội gần như suy sụp sau các trận bom tơi bời, Tổng thống Nixon lại ra lệnh ngưng ném bom và tái tục hoà đàm Paris. Việc này giúp cho cộng sản cơ hội ngàn vàng để tái lập lực lượng và làm thay đổi tình thế. Thẳng thắn mà nói, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà đã không biết rõ về địch để có thể có những hành động dứt điểm và hợp lúc để chiến thắng.
Tuy nhiên, công tác Chiến tranh Chính trị vẫn luôn là một yếu tố cần thiết trong bất cứ chiến tranh nào mang màu sắc ý thức hệ. Ðó là một trọng đề mà các cấp lãnh đạo phải quan tâm và hỗ trợ.

Monday, October 15, 2007

Đại Tá Hồ Ngoc Cẩn SVSQ Khóa 2 Hiện Dịch Đồng Đế Nha Trang

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

Hồ Ngọc Cẩn (24 tháng 3 năm 1938 - 14 tháng 8 năm 1975) là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông giữ nhiều chức vụ tác chiến trong binh chủng biệt động quân trong giai đoạn đầu đường binh nghiệp, rồi được biệt phái sang các Sư đoàn 21 và Sư đoàn 9 bộ binh. Chức vụ cuối cùng lúc bị phía cộng sản bắt là đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện (tỉnh lị là Vị Thanh nay là tỉnh lị tỉnh Hậu Giang). Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu để cuối cùng đối phương vây bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975.

Thiếu thời

Ông sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại miền tây. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc gia Việt Nam. Thuở nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học năm (1945) thì Chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường thiếu sinh quân. Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ Việt Nam có 7 trường thiếu sinh quân như sau:

Trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu, ở Gia Định

Trường thiếu sinh quân đệ nhị quân khu ở Huế

Trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu ở Hà Nội

Trường thiếu sinh quân Móng Cái dành cho sắc dân Nùng

Trường thiếu sinh quân đệ tứ quân khu ở Ban Mê Thuột

Trường thiếu sinh quân Đà Lạt của quân đội Pháp

Trường thiếu sinh quân Đông Dương của quân đội Pháp, ở Vũng Tàu

Ông được thu nhận vào lớp nhì trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường thiếu sinh quân đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia Định về Mỹ Tho.

Khi Hiệp định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954, thì ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường thiếu sinh quân đệ tam quân khu di chuyển từ Hà Nội vào, sát nhập với trường đệ nhất quân khu ở Mỹ Tho. Niên học 1954-1955, trường bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Ông học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt văn là ông Nguyễn Hữu Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào mà ông lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của ông được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của ông chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi.

Binh nghiệp

Năm 17 tuổi ông được gửi lên học tại Liên trường võ khoa Thủ Đức, về vũ khí, niên khóa 1955-1956. Sau ba tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, ông lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ký đăng vào quân đội với cấp bậc binh nhì.

Theo quy chế dành cho các thiếu sinh quân thời đó, một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau ông là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.

Chiến tranh tại miền Nam tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ quốc phòng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Ông được nhập học và tốt nghiệp khóa sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy.

Sau khi ra trường, ông theo học một khóa huấn luyện biệt động quân, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng thuộc tiểu đoàn 42 biệt động quân "Cọp ba đầu rằn". Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần Thơ (Phong Dinh), Chương Thiện, Sóc Trăng (Ba Xuyên), Bạc Liêu, Cà Mau (An Xuyên). Nhờ tài chỉ huy thiên bẩm và chiến đấu gan dạ nên ông được thăng cấp đặc cách nhiều lần tại mặt trận lên đến trung úy và được bổ nhiệm làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 42.

http://vietnamaaa.noosblog.fr/.shared/image.html?/photos/uncategorized/2007/04/24/tuhinhhongoccan.jpgCuối năm 1966, ông từ biệt tiểu đoàn 42 biệt động quân đi làm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 thuộc sư đoàn 21 bộ binh. Suốt năm 1967, ông với tiểu đoàn 1 tung hoành trên khắp lãnh thổ năm tỉnh vùng sông Hậu. Sau trận tổng công kích Mậu Thân, ông được thăng thiếu tá. Năm 1968, ông là người có nhiều huy chương nhất quân đội.

Năm 1970, ông được thăng trung tá và rời tiểu đoàn 1 trung đoàn 33 đi làm trung đoàn trưởng trung đoàn 15 thuộc sư đoàn 9 bộ binh. Năm 1972, ông được lệnh mang trung đoàn 15 từ miền Tây lên giải phóng An Lộc. Cuối năm 1973, ông được trở về chiến trường sình lầy với chức vụ tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện.

Trận chiến cuối cùng

Cộng Sản Việt Nam hèn hạ dùng nhục hình để xử tử hình Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ngày 14-8-1975.

Sau khi lệnh từ Sài Gòn kêu gọi buông súng ông vẫn còn chiến đấu. Các đơn vị quân cộng sản tiến vào tiếp thu tiểu khu Chương Thiện, thì gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Cuối cùng ông bị bắt và mang ra xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ngày 14 tháng 8 năm 1975. Trước lúc bị hành hình, những người cộng sản xử ông hỏi ông có nhận tội vừa nêu ra không thì ông trả lời như sau:

"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi. Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi. Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi. Tôi chiến đấu cho tự do của người dân. Tôi có công mà không có tội. Không ai có quyền kết tội tôi. Lịch sử sẽ phê phán xét đoán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy. Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt. Đả đảo cộng sản. Việt Nam muôn năm".

Người dân Cần Thơ lén đưa thi thể có Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn về ... và phủ cho một lá cờ Việt Nam Cộng Hòa ... mà cố Đại Tá đã suốt đời phục vụ cho lý tưởng của Việt Nam Cộng Hoà.

NGUYEN HUY HUNG

Friday, October 5, 2007

Võ Bị Ðồng Ðế

Võ Bị Ðồng Ðế

(Tháng Ba 1955 đến tháng Tư 1975)

Lược ghi của TRƯƠNG HUYỀN

Ðồng Ðế, điạ danh nằm trên cao cách thị xả Nha-Trang khoảng 4 km về phía Bắc, Ðông là bờ biển Nam Hải, Tây song song quốc lộ 1 và thiết lộ xuyên Việt, Nam tiếp giáp thắng cảnh hòn Chồng, Bắc giáp mỏm núi Hòn Khô. Hòn Chồng và Hòn Khô như hai cánh tay giang ra ôm eo biển Ðồng Ðế vào lòng. Không rỏ ai đặt tên Ðồng Ðế cho nơi nầy có ý nghỉa của nó ? Vùng đất nầy trước năm 1954 ít người lai vảng, dân cư thưa thớt, đặc biệt dọc theo núi Hòn Khô, dân chài lướI chiều từ biển đi vào phải đi từng nhóm và đề phòng ..,vì ông “Ba Mươi” khi chiều xuống thỉnh thỏang hay ra chào đón hoặc rình rập bắt gia súc .

Sau hiệp định Geneve, Ðồng Ðế trở nên nhộn nhịp, đồng bào Ba Làng (gốc Thanh Hóa) đến định cư chiếm một chiều dài khoảng ¾ km và chiều rộng ¼ km trên bờ biển, phần phía sau Ba Làng là một trại binh thô sơ do quân đội Pháp để lại .

Cuối năm 1954 quân trường Commando của Pháp (Ecole de Commando) tại Vạt Cháy, Hòn Gai được thu vén di chuyển vào Nam theo quy ước Geneve. Sau một thời gian ngắn tạm trú tại Suối Dầu (Khánh Hòa) tháng 2-1955 được di chuyển về trại binh Ðồng Ðế với danh xưng “Ecole de Commando Et Education Physique” tiếp theo chuyển giao cho QÐVNCH và đổi tên là “Biệt Ðộng Ðội Thể Dục Ðinh Tiên Hoàng Ðồng Ðế”.

Lấy Ðồng Ðế làm trung tâm huấn luyện thật là một chọn lựa tối ưu. Từ các căn cứ quân sự Không, Hải, lộ vận và hỏa xa đều gần Trung tâm huấn luyện.Các xạ trường, mục tiêu cố định, di động, biến hiện, các bải tập mìn bẩy, dây tử thần, đoạn dường chiến binh, thao trường v.v…đều nằm dưới chân núi Hòn Khô hay thung lủng ở giửa chân núi Hòn Khô và đèo Rù Rì. Bao bọc chung quanh không xa địa điểm toạ lạc của trường có biển, sông, núi cao, rừng rậm trùng điệp rất thuận tiện cho việc huấn luyện như: Nhảy dù đêm trên mọi địa thế, xâm nhập ven biển, vượt sông, tác chiến sình lầy, phục kích, tấn công , phòng thủ nơi núi cao hay rừng rậm đều có sẳn địa thế và trường hợp muốn có địa thế rộng rải hơn nữa để phối họp hành quân thực tập cấp Ðại đội, Tiểu đòan, Liên đòan thì khu Ðồng Bò trong lãnh thổ Diên Khánh cách đó củng không bao xa. Ðồng Ðế khí hậu lại tốt, gió biển thổi ngày đêm . Tôi biết Ðà lạt vì xuất thân từ trường Võ Bị Liên Quân và củng là Huấn Luyện Viên taị trường Bộ Binh Thủ Ðức. Theo tôi địa thế huấn luyện Ðồng Ðế có nhiều đặc điểm tốt hơn hẳn hai quân trường trên .

- Ðà Lạt có rừng thông trùng điệp, khí hậu tốt, nhưng đến giai đoạn thực tập tác chiến trên mọi địa thế, đặc biệt sông rạch sình lầy …phải về vùng Bình Thủy -Cần Thơ .

- Trường Bộ Binh Thủ Ðức nằm trên đồi Tăng Nhân Phú, phía sau có nhiều sông rạch, không có núi đồi cao, chỉ có một ít rừng …,nhưng toàn là cây cao su, nên Thủ Ðức ít thích ứng cho quân trường về nhiều mặt. Nếu làm một Trung tâm hay Ðại Học dân sự thì tốt hơn .

Ðịa thế cùng với lối huấn luyện đặc biệt của quân trường Ðồng Ðế đã nổi tiếng khắp nước, nên dù là thư sinh hay kẻ đã khoác áo chiến y vẩn e ngại về Ðồng Ðế Những tin loan truyền về Ðồng Ðế không ai ngoài những khóa sinh đã từng bước qua cửa, thêm vào đó những người thích văn thơ lại sang tác những câu truyền tụng một thời trong nhân gian như :

Rớt tú tài anh đi Trung sỉ

Dây Tử thần Ðồng Ðế đợi anh…. “

Quả thật, không gì cay hơn thi rớt, cha mẹ buồn phiền, người yêu tìm cách lánh mặt, tương lai như ngỏ cụt …, ghét dây Tử thần Ðồng Ðế củng chẳng đáng trách là phản chiến” ! Nhưng khi đả được lệnh gọi trình diện nhập ngủ đi vào quân trường Ðồng Ðế thì ...một liều ba bảy củng phải liều để rồi Ðồng Ðế đêm ngày nghe sóng vổ, dây Tử thần không làm nhụt chí nam nhi ..” .Rồi chẳng mấy chốc trở thành “trang thanh niên hùng dủng, người chiến sỉ oai hung của tiền tuyến và của lòng em …”. Quân trường Ðồng Ðế trở thành ..dễ thương, dễ nhớ …

Kẻ viết bài nầy khi nhận lệnh đi thụ huấn ở quân trường Ðồng Ðế củng mang tâm trạng ..chán nản, bất mãn, nhưng hôm nay lại thấy vinh dự khi nhắc lại những buồn vui nơi quân trường. Thật vậy, từ trường Ðaị học Quân sự về Sư Đoàn với nhiều ước vọng, nhất là Tiểu đoàn cũ còn đó, một ghế Trung Đoàn Trưởng chưa người điền khuyết …Nhưng khi trình diện Tư Lệnh Sư Đoàn, Trung Tá Nguyển Văn Vĩnh (biệt danh Vĩnh hèo)* với nét mặt nghiêm nghị, ông ta ra lệnh :”Anh về đúng lúc, trong khi chờ đợi lệnh thuyên chuyển chẳng lẻ “ngồi đuổi rồi”(chứng tật nói năng đối với cấp dưới chẳng phải giận ghét), anh đã là Tiểu Đoàn Trưởng, anh đã qua Ðại học Quân sự, nay anh “đại diện” Sư Đoàn đi học nốt Biệt Ðộng Ðội Thể Dục 3 tháng tại Ðồng Ðế, nó sẻ giúp anh khi nhận nhiệm vụ mới. Khóa khai giảng tuần qua, xuống nhận Sự vụ lệnh đi ngay cho kịp” .Tôi định hỏi kỷ về lệnh của ông, nhưng chợt nghỉ ..có hỏi thì củng như “hèo” thôi ! nên tuân lệnh chào và đàng sau quay .

Với tư cách khóa sinh, tôi đến trình diện Quân Trường Ðồng Ðế . Ban huấn luyện quân trường ngạc nhiên và lúng túng vì cơ hữu lúc bấy giờ chỉ có vài Ðại úy, Trưởng khối khóa sinh là một Trung úy, trong khi khóa sinh đeo cấp bậc Ðại úy . Ðế giải quyết vấn đề, Ban huấn luyện đặt tôi là “Khóa sinh cố vấn” (không phải cố vấn khóa sinh). Tôi không bị ràng buộc vấn đề huấn luyện, nhưng hằng ngày tôi củng sinh hoạt theo Ðại đội 21 mà Ðại Đội Trưởng là Trung Úy Danh. Chương trình huấn luyện vào lúc nầy không có gì đổi mới ngọai trừ huấn nhục để người khóa sinh chịu đựng cam go khó nhọc gian khổ. Buổi sáng ra khỏi trại, trên đường đi đến thao trường vừa chạy vừa la .. Ðại đội trưởng hô “Biệt động đội”, khóa sinh đáp “À” .

Sau 3 tháng học tập, tôi có lệnh thuyên chuyển chính thức về quân trường, nhận Trưởng khối Quân Huấn thay cho Ðại Úy BVS lên chức Chỉ Huy Phó .

Trường Biệt Ðộng Ðội & Thể Dục Ðồng Ðế chuyển mình. Ðầu năm 1957 Ðại tá Nguyễn Thế Như (nguyên tư lệnh Sư đoàn Khinh chiến 15) và Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Minh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ về thay thế Ðại Tá Trần Vĩnh Ðắc trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng quân trường, hang loạt sĩ quan tốt nghiệp ở Mỹ và Mã Lai được đưa về .Võ sư Thiếu tá Nguyển văn Minh (cấp đồng hóa) và một vỏ sư khác (huyền đai) người Nhật bản (nguyên Trung úy đào ngũ ở lại VN sau khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Ðồng Minh) được Bộ Tổng Tham Mưu gởi tới. Cố vấn quân sự Mỹ cũng được thay thế bởi một Ðại Úy tốt nghiệp Ranger và đã có kinh nghiệm huấn luyện cho Biệt Kích Mã Lai Á .

Hướng đi của Bộ Tổng Tham Mưu cho quân trường lúc đó là:

A .Huấn luyện tăng thêm hiệu năng tác chiến nghành Biệt Ðộng Ðội & Thể dục trong đó có cả Thể dục cận chiến và chuyển mình hình thành một binh chủng .

  1. Song song với việc huấn luyện Biệt Ðộng Ðội & Thể dục chuẩn bị phương tiện (doanh trại, thao trường, tài liệu huấn luyện) để đào tạo hàng Hạ sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời chuẩn bị doanh trại đón tiếp Liên Ðoàn 77 Lực lượng Ðặc Biệt, quân số khoảng chừng 300 người mà hầu hết là Sĩ Quan hay Hạ Sĩ Quan với chương trình huấn luyện đặc biệt dành cho họ. Quân Trường cũng được lệnh đổi danh xưng từ “Biệt Ðộng Ðội & Thể dục” thành “Trường Hạ Sĩ Quan Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa” và khuyến khích sáng tác huy hiệu quân trường . Ðại Úy Vũ Phi Hùng, trưởng ban Vũ khí đã vẻ huy hiệu trường Hạ Sĩ Quan và được Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận .

Khởi đầu chưong trình tu nghiệp là bổ túc quân sự cho khoảng 400 HSQ chuyên nghiệp có B1 hoặc B2, đồng thời tiếp nhận các HSQ từ các đơn vị gởi về tu nghiệp theo nhịp độ 3 tháng 1 khóa, sỉ số khóa sinh tùy theo khả năng quân trường Ngoài ra cuối năm 1957 quân trường phải tiếp nhận thêm 1 khóa tu nghiệp đặc biệt cho khoảng 900 Hạ Sĩ Quan của các giáo phái (Bình Xuyên, Cao Ðài, Hòa Hảo) vừa mới sát nhập vào Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa . Số khóa sinh nầy là một khó khăn và nhức đầu của quân trường lúc bấy giờ, ngơài việc học tập không mấy ai tích cực mà thỉnh thoảng cuối tuần anh em lại kéo ra sân cờ đòi về Nam..!

Cuối năm 1957, một loạt Sĩ quan khác sau khi tốt nghiệp các khóa ở nước ngoài về cũng được thuyên chuyển tới Ðồng Ðế trong đó có Ðại úy ÐVT tốt nghiệp Bộ binh cao cấp ở Mỹ thay tôi trong nhiệm vụ Trưởng khối Quân Huấn, còn tôi trách nhiệm Khối Khóa sinh . Cùng lúc đó một số Sĩ quan của Quân trường kể cả Chỉ Huy Trưởng cũng được thay nhau đi thăm quan các Trung Tâm Huấn Luyện của các Sư đòan Bộ binh Mỹ đồn trú tại Hạ Uy Di . Ðặc biệt quân trường lúc nầy cũng được sự chú tâm theo dõi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, nên khi danh sách phái đoàn thăm quan đầu tiên được trình lên TT (thời điểm nầy tất cả danh sách người đi xuất ngoại đều phải trình lên TT) gồm có Ðại Tá Như, tôi, Oanh và Chánh cùng đang có mặt tại Sàigòn để chuẩn bị hành trang lên đường . Khi thấy tên Ðại Tá Như, ngay tức khắc Tổng Thống ra lệnh Bộ Tổng Tham Mưu chỉ thị Thiếu Tướng Tôn Thất Ðính Tư lệnh Quân Ðoàn II chọn một Sĩ quan khác thay thế Ðại Tá Như đi thăm quan và sẽ nhận nhiệm vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Hạ Sĩ Quan sau khi đi thăm quan về .Trung Tá Ðoàn Văn Quảng thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn II được chọn..,và phái đoàn lên đường ngay sau khi Trung Tá Quảng có mặt tại Sài-gòn .

Tổng Thống và Bộ TTM quan tâm đến trường HSQ là điều dể hiểu, vì hàng ngủ Hạ Sĩ Quan Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa thời kỳ phôi thai rất phức tạp, một phần được đào tạo từ địa phương và đả có thâm niên công vụ, đa số rất giỏi cả chiến đấu lẩn tham mưu, chính họ thường xuyên được trám vào các chức vụ khi chưa có Sĩ quan điền khuyết .Một số lớn khác được thăng cấp tại hàng vì công trạng hay nhu cầu của các lực lượng giáo phái, số khác thuộc lực lượng phụ binh của Pháp để lại, đa số chiến đấu rất giỏi và gan lì , đụng địch là húc như trâu điên …Nhưng ..! hiểu biết tổng quát kém, môn bản đồ chưa được học qua, địa bàn, vũ khí, truyền tin hay nghệ thuật lãnh đạo tất cả đều chưa có căn bản . Việc tu nghiệp để nâng cao trình độ cho Hạ Sĩ Quan trong quân đội tân tiến là một vấn đề thiết yếu. Sự lưu tâm của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng là một vinh dự cho hàng Hạ Sĩ Quan Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa và cho quân lực .

Cuối năm 1958, sau khi việc huấn luyện song hành của Biệt Ðộng Ðội, Thể Dục và Hạ Sĩ Quan có kết quả cụ thể, việc quản trị tiếp vận đã hoàn chỉnh, chương trình huấn luyện Biệt Ðộng Ðội và Thể Dục cũng chuyển dần sang việc thành lập binh chủng Biệt Ðộng Quân thì một lần nữa quân trường Ðồng Ðế lại có thêm một nhiệm vụ mới đó là chuẩn bị phương tiện để đón nhận và đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch. Khác với trường Võ bị Ðà-lạt, tài nguyên SVSQ được chọn từ hàng HSQ xuất sắc, họ phải là những người có chiến công, hạnh kiểm tốt, trình độ văn hóa Trung học phổ thông. Tuy nhiên ứng viên phải qua một cuộc thi tuyển do Bộ Tổng Tham Mưu tổ chức .

Trong thời gian quân trường chuẩn bị tài liệu huấn luyện, phương tiện tiếp vận và đợi danh sách các SVSQ được tuyển chọn của Bộ TTM, thì tờ báo “Chiến Sĩ Quân Ðội VNCH”, tiếng nói duy nhất của Quân Đội do Nha Chiến Tranh Tâm lý Bộ Quốc Phòng phát hành dành nguyên một số đặc biệt nói về tường HSQ và vai trò của HSQ trong QLVNCH, tôi được phòng Chiến Tranh Tâm Lý yêu cầu viết bài qua cái nhìn thực tế lúc ở ngoài đơn vị và lúc ở quân trường .

Tháng 6 năm 1959 khóa hiện dịch đầu tiên được khai giảng với sĩ số trên 350 người Về sinh hoạt hằng ngày như quân phong quân kỷ, nghệ thuật dẫn đạo lấy khuôn mẩu từ trường Võ Bị Ðà Lạt . Cán bộ điều hành từ Tiểu đoàn trưởng và Ðại đội trưởng hầu hết xuất thân từ quân trường nầy. Về chương trình huấn luyện 9 tháng tại quân trường, vì tất cả các SVSQ đã có kiến thức căn bản quân sự kể cả cá nhân và tiểu đội tác chiến, nên dành nhiều thì giờ cho việc huấn luyện các khoa chuyên môn theo phương pháp Mỹ, phần tác chiến chú trọng huấn nhục, tháo vát, quen chịu đựng gian khổ trong mọi hoàn cảnh và khả năng điều quân cấp trung đội & đại đội. Sau đó 3 tháng phân bổ thực tập trong các đơn vị chiến đấu, việc theo dỏi thực tập, phê phán khả năng thuộc quyền của các đơn vị trưởng thực tập, quân trường chỉ đóng vai trò liên lạc . Với tư cách là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn SVSQ, được quân trường phái xuống các đơn vị để ghi nhận ý kiến của cả hai bên .

Gần cuối năm 1959, công việc đang bình thường thì quân trường lại thay đổi Chỉ Huy Trưởng. Trung Tá Ðoàn văn Quảng đi, Trung tá Ðặng Văn Sơn đến thay thế. Sau mỗi lần thay đổi Chỉ Huy Trưởng, việc huấn luyện củng thay đổi ít nhiều . Nhưng phải thành thực nhận định, dưới thời Trung Tá Sơn từ việc huấn luyện cho tới quản trị tiếp vận, chỉnh trang và thiết trí thao trường, xạ trường….chu tất nhất, không những thế, từ trạm xá, phòng xả hội dành cho trại gia binh củng được kiến tạo .

Ðầu tháng 7 năm 1960, tất cả SVSQ đi thực tập trở về trường để tham dự trắc nghiệm cuối cùng để chuẩn bị mãn khóa. Sau hơn một năm tròn tôi luyện, ngày 23 tháng 7 năm 1960 khóa 1 SVSQ làm lễ mãn khóa dưới sự chủ tọa của Tổng thống VNCH . sau lể mản khóa, TT Diệm đích thân đi thăm các thao trường và rất hân hoan khi nhìn tận mắt một toán khóa sinh với trang bị cá nhân tác chiến đang thực tập vượt sông Cả (Nha Trang) mà một Sĩ quan huấn luyện viên mang khẩu đại liên 30 với đầy đủ đạn dược lắp ngay vào chổ Tổng Thống và quan khách đang đứng. Hoặc là màn huấn luyện của một toán khóa sinh từ đỉnh đồi cao bám vào giây cáp vượt qua sườn núi, phía dưới là ghềnh đá lởm chởm (nếu yếu bóng vía chỉ có thể nhắm mắt chờ chết) cuối cùng rơi xuống hồ nước, biết bơi thì vào bờ, không biết thì …uống một ít nước rồi có người cứu ngay .., được gọi là “giây tử thần” !

Sau ngày mãn khóa 1 trên 300 “ Tân Sĩ quan nhà nghề” được tung đi bốn phương trời , các đơn vị đón nhận họ như một món quà quí giá .Võ Bị Ðồng Ðế từ đấy .. “Vua biết mặt, Chúa biết tên” nên được lệnh tiếp tục đào tạo thêm các khóa kế tiếp . Khóa 2 khai giảng ngày 27 tháng 2 năm 1961 với sỉ số 350 người .Khóa 3 khai giảng ngày 27 tháng 5 năm 1962 với sĩ số 550 người, khóa 4 sĩ số 400 người . Ðặc biệt khóa 3 & 4 Sĩ Quan hiện dịch trước khi khai giảng khóa học độ 2 tháng, có khoảng 100 sinh viên Quốc gia Hành chánh thuộc các khóa 6,7 & 8 đã tốt nghiệp về Hành chánh, theo chỉ thị của Tổng Thống Ngô Đình Diệm được gởi tới trường Hạ Sĩ Quan Ðồng Ðế để thụ huấn căn bản quân sự và sau khi mãn khóa được nhập học với khóa 3 & 4 Sĩ Quan hiện dịch . Sau khi tốt nghiệp khoá Sĩ Quan tại Ðồng Ðế, các sinh viên Quốc gia Hành chánh nầy trở về nhiệm sở để tương lai theo kế hoạch của chính phủ VNCH, các sinh viên nầy sẻ được bổ nhiệm chức vụ Quận Trưởng thay thế Sĩ Quan Quân Đội trở về chỉ huy với nhiệm vụ quân sự thuần túy . Tổng cộng Sĩ Quan Hiện Dịch xuất thân từ Võ Bị Ðồng Ðế là 1800 người, không kể 100 Sĩ Quan nguyên là gốc là Sinh Viên Quốc Gia Hành chánh . Cuối năm 1963 quân trường chấm dứt đào tạo Sĩ Quan Hiện Dịch .

Trong năm 1961, quân trường có một số thay đổi . Ðầu năm, bộ phận Lực Lượng Ðặc Biệt (Liên đoàn 77 Biệt kích Dù) rút hết về Sài Gòn, sau đó bộ phận huấn luyện Biệt Ðộng Quân được di chuyển ra Dục Mỹ. Ðại Tá Sơn được chỉ định Chỉ huy trưởng TTHL Biệt Ðộng Quân Dục Mỹ, Ðại Tá Ðỗ Cao Trí về chức vụ Chỉ huy trưởng trường Hạ Sĩ Quan Ðồng Ðế Nha Trang.

Ðầu năm 1962, vì nhu cầu quân số việc đào tạo Hạ Sĩ Quan được gia tăng mạnh mẽ cả phẩm lẫn lượng cho tới cuối năm 1963 sau khi chấm dứt đào tạo Sĩ Quan hiện dịch. Mọi nỗ lực quân trường đều dồn hết vào việc đào tạo Hạ Sĩ Quan . Ðến nữa năm 1967 thì Vỏ bị Thủ Ðức vượt quá khả năng nên Vỏ bị Ðồng Ðế được lệnh chuẩn bị gánh vác thêm việc huấn luyện sỉ quan trừ bị ..và từ đó tới năm 1972 sĩ số khóa sinh và Sinh Viên Sĩ Quan quá đông, doanh trại không đủ chổ chứa phải dựng thêm lều vải.

Võ Bị Ðồng Ðế chính danh là trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nhưng từ tháng 3-1955 đến 4-1975 đã đào tạo hàng vạn BÐÐ & TD và BÐQ, tu nghiệp trên 20,000 và đào tạo trên 120,000 Hạ Sĩ Quan , 1,800 Sĩ Quan Hiện Dịch, khoảng 12,000 Sĩ Quan trừ bị và tu nghiệp một số nhỏ (không đáng kể) Sĩ Quan nước bạn Cam-Bốt .

Ðể tri ân và ghi nhớ Võ Bị Ðồng Ðế từ ngày sinh cho đến ngày tử, đã lần lượt chỉ huy bởi các danh Tá, danh Tướng như sau : (ghi cấp bậc khi nhận bàn giao)

  1. Tiếp nhận quân trường từ quân đội Pháp : Thiếu tá Lê Cầm (1955-1956)
  2. Ðại Tá Trần Vỉnh Ðắc (1956-1957)
  3. Ðại Tá Nguyển Thế Như (1957-1958)
  4. Trung Tá Ðoàn Văn Quảng (1958-1959)
  5. Trung Tá Ðặng Văn Sơn (1959-1961)
  6. Ðại Tá Ðổ Cao Trí (1961-1962)
  7. Ðại Tá Nguyển Văn Kiểm (1962-1963)
  8. Trung Tá Nguyển Vĩnh Xuân (vài tháng cuối năm 1963 để thi hành mệnh lệnh do tướng Ðôn sắp xếp).
  9. Thiếu Tướng Nguyển Văn Là (1964-1965)
  10. Ðại Tá Lâm Quang Thơ (1965-1966)
  11. Ðại Tá Phạm Văn Liễu (1966-1967)
  12. Ðại Tá Lê Văn Nhật (1967-1969)
  13. Trung Tướng Linh Quang Viên (1969-1971)
  14. Chuẩn Tướng Vỏ Văn Cảnh (1971-1973)
  15. Trung Tướng Dư Quốc Ðống (1973-1974)
  16. Trung Tướng Phạm Quốc Thuần (1974-1975)

Suốt 20 năm Vỏ Bị Ðồng Ðế đã đóng góp vĩ đại vào công cuộc xây dựng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa lấy phương châm “TỔ QUỐC-DANH DỰ-TRÁCH NHIỆM” làm kim chỉ nam .

Trước hết xin kính cẩn hoài niệm và tri ân hàng ngàn cựu khóa sinh và sinh viên, cán bộ đả giũ trọn lời thề hy sinh cho Tổ Quốc trong đó có cố Ðại Tướng Ðổ Cao Trí nguyên Chỉ Huy Trưởng là tiêu biểu. Kế đến xin được ca tụng hàng Huấn luyện viên mà Võ Bị Ðồng Ðế đã may mắn có một toán Huấn luyện viên như quí vị đã đưa quân trường Ðồng Ðế trở thành danh trường, cung cấp hàng vạn cấp chỉ huy tài danh và can đảm cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa . Không phải chỉ ở quân trường, mà khi ra chiến trường quí vị cũng là những “kiện tướng”, điển hình như Tướng Phạm Văn Tất (HLV/LÐ77), Ðại Tá Cao văn Ủy (HLVCT & BÐQ), tên tuổi quí vị đã đi vào quân sử và lịch sử trên đường Quốc Lộ 7 mà Sư Đoàn Sao vàng cộng sản không thể quên Liên đoàn 4 Biệt Ðộng Quân (kẻ thù số 1 của chúng) và Ðại tá Vủ Phi Hùng (tức nhà văn Phùng Hy HLV vủ khí & BÐQ).

Sau hết xin được ca tụng tinh thần kỹ luật, lòng trung thành của Khóa sinh, Quân-Dân-Chính các cấp trường Vỏ Bị Ðồng Ðế đối với quân đội cũng như chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trong biến cố tháng 4-75, lúc nào củng thủ súng sẳn sàng chiến đấu. Nếu không vì tình hình biến đổi, xoay chiều quá mau chóng và nếu không có lệnh của cấp chỉ huy của quân trường cho “ai nấy tự di tản” thì khi quân “tai bèo dép râu” bước qua cổng Vỏ Bị Ðồng Ðế cũng khốn đốn như bước vào cổng Tỉnh, Tiểu Khu Chương Thiện của cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (cựu SVSQ khóa 2 hiện dịch Ðồng Ðế Nha Trang).

Trương Huyền

Ghi chú:

* Trung tá Vĩnh là một sĩ quan kỹ luật nghiêm minh và tận tụy (dưới thời Pháp), khi cấp dưới vi phạm kỹ luật, ông có tật hay đánh cấp dưới bằng hèo (quất vào đít như Bố đánh con) cho nên mới mang danh “hèo”. Ông thường được thượng cấp chỉ định làm Quân Trấn trưởng nhiều nơi kể cả Sàigon-Chợ Lớn . Ông chết bất đắc kỳ tử khoảng 1 tuần trước biến cố 1-11-63 khi đang tại chức.

Phạm Hùng Khóa 10B/72 với M16

Wednesday, October 3, 2007

Đu Giây Tữ Thần

Đu Giây Tữ Thần

Nha Ky Thuat / The Strategic Technical Directorate


NHA KY THUAT
THE STRATEGIC TECHNICAL DIRECTORATE
AND
REPUBLIC OF VIETNAM SPECIAL OPERATION FORCES
In early 1956 the French built Commando School at Nha Trang was re-established with US military assistance to provide physical training and ranger instruction for up to 100 students. Early the following year President Ngo Dinh Diem ordered the creation of a special unit to conduct clandestine external operations. Initial parachute and communication training for 70 officers and sergeants was conducted at Vung Tau; 58 of these later underwent a four month commando course at Nha Trang under the auspices of a US Army Special Forces Mobile Training Team. Upon completion, they formed the Lien Doi Quang Sat so 1 (I Observation Unit) on I November 1957 at Nha Trang. The unit was put under the Presidential Liaison Office, a special intelligence bureau controlled by President Diem and outside the normal ARVN command structure. The commander was Lt. Col. Le Quang Tung, an ARVN airborne officer and Diem loyalist. Many of the Unit's members came originally from northern Vietnam, reflecting its external operations orientation.
In 1958 the Unit was renamed the Lien Doan Quang Sat so 1, or I Observation Group, reflecting its increase to nearly 400 men in December. By that time the Group was seen as an anti Communist stay behind force in the event of a North Vietnamese conventional invasion; however, because of its privileged position the Group stayed close to Diem and rarely ventured into the field.
By 1960 it was apparent that the main threat to South Vietnam was growing Viet Cong insurgency; the Group abandoned its stay behind role and was assigned missions in VC infested areas. Operations were briefly launched against VC in the Mekong Delta, and later along the Lao border.
In mid 1961 the Group had 340 men in 20 teams of 15, with plan for expansion to 805 men. In October the Group began operations into Laos to reconnoiter North Vietnamese Army logistical corridors into South Vietnam. In November the Group was renamed Lien Doan 77, or 77 Group, in honor of its USSF counterparts. Over the next two years members were regularly inserted into Laos and North Vietnam on harassment and psychological warfare operations. Longer duration agent missions, involving civilians dropped into North Vietnam, also came under the Group's auspices.
The Group's sister unit, 31 Group, began forming in February 1963. Following criticism of 77 Group's perceived role as Diem's 'palace guard', both groups were incorporated into a new command,, the Luc Luong Dac Biet (LLDB) or Special Forces, on 15 March 1963. In theory the LLDB would work closely with the USSF in raising irregular village defense units. This cosmetic change still kept the Special Forces outside of ARVN control, however, and did little to change the performance of Col. Tung's troops. In August, LLDB members attacked Buddhist pagodas across South Vietnam in an effort to stiffle Buddhist opposition to the Diem regime. At the time LLDB strength stood at seven companies, plus an additional three 'civilian' companies used by Diem on political operations. Because of such missions the LLDB became despised and, when anti Diem military units staged a coup d'etat in November, the 'revolutionary' forces arrested Col. Tung and quickly neutralized the LLDB. (Tung was later executed.)
The LLDB after President Ngo Dinh Diem
In the wake of the coup the Presidential Liaison Office was dissolved and its function assumed by the ARVN. The LLDB was put under the control of the Joint General Staff and given the mission of raising paramilitary border and village defense forces with the USSF. External operations were given to the newly formed Liaison Service, also under the JGS. The Liaison Service, commanded by a Colonel, was headquartered in Saigon adjacent to the JGS. It was divided into Task Force 1, 2 and 3, each initially composed of only a small cadre of commandos.
In 1964 the JGS also formed the Technical Service (So Ky Thuat), a covert unit tasked with longer duration agent operations into North Vietnam. Commanded by a Lieutenant Colonel, the Technical Service comprised Group 11 (Doan 11), oriented toward agent operations in Laos and eastern North Vietnam; Group 68 (Doan 68 Thang Long), another infiltration unit; and the Coastal Security Service, a maritime commando group at Da Nang attached to the Technical service with its own contingent of PT boats for seaborne infiltration.
The post Diem LLDB was restructured for its proper role as a source of counter insurgency instructors for paramilitary forces. By February 1964, 31 Group had finished training and was posted to Camp Lam Son south of Nha Trang. In May the Group became responsible for all LLDB detachments in I and 11 Corps. A second reorganization occured in September when 31 Group was renamed III Group and given responsibility for the Special Operations Training Center at Camp Lam Son. Now 77 Group, headquartered at Camp Hung Vuong in Saigon, became 301 Group. In addition, 91 Airborne Ranger Battalion, a three company fast reaction para unit, was raised under LLDB auspices in November. Total LLDB force strength stood at 333 officers, 1270 non commissioned officers and 1270 men. The LLDB command at Nha Trang was assumed by Brig. Gen. Doan Van Quang in August 1965.
By 1965 the LLDB had become almost a mirror image of the USSF. LLDB Headquarters at Nha Trang ran the nearby Special Forces Training Center at Camp Dong Ba Thin. LLDB 'C' Teams, designated A through D Company, were posted to each of South Vietnam's four Military Regions; each 'C' Team had three 'B' Teams, which controlled operational detachments at the sub regional level; 'B' Teams ran 10 to 11 'A' Teams. 'A' Teams were colocated with USSF 'A' Teams at camps concentrated along the South Vietnamese border, where they focused on training Civilian Irregular Defense Force (CIDG) personnel.
In addition, the LLDB Command directly controlled the Delta Operations Center with its Delta teams and the four company 91 Airborne Ranger Battalion, both were used by Project Delta, a special reconnaissance unit of the US Military Assistance Vietnam Studies and Observation Group (MACVSOG), which operated deep in VC/NVA sanctuaries.
On 30 January 1968 the Communists launched their TET general offensive across South Vietnam. Caught celebrating the lunar New Year, the Saigon government was initially ill prepared to counter the VC/NVA attacks. When Nha Trang was hit on the first day the LLDB Headquarters was protected by 91 Airborne Ranger Battalion, recently returned from one of its Project Delta assignments. At only 60 percent strength the Airborne Rangers turned in an excellent performance, pushing the major Communist elements out of Nha Trang in less than a day. The battle, however, cost the life of the battalion commander and wounded the four company commanders.
After a four month retraining in Nha Trang three companies from 91 Airborne Ranger Battalion were brought together with six Delta teams and renamed 81 Airborne Ranger Battalion. In early June the new battalion prepared for urban operations in Saigon after a second surge of Communist attacks pushed goverrunent forces out of the capital's northern suburbs. On 7 June the Airborne Rangers were shuttled into Saigon and began advancing toward VC held sectors around the Duc Tin Military School. After a week of bloody street fighting, much of it at night, the Airborne Rangers pushed the enemy out of the city.
Following the Tet Offensive 81 Airborne Ranger Battalion was increased to six companies, and continued to be used as the main reaction force for Project Delta; four companies were normally assigned Delta missions while two remained in reserve at LLDB Headquarters.



The Strategic Technical Directorate
In late 1968 the Technical Service was expanded into the Nha Ky thuat (Strategic Technical Directorate, or STD) in a move designed to make it more like MACVSOG, the US joint services command created in 1964 which ran reconnaissance, raids and other special operations both inside and outside South Vietnam. Despite internal opposition the Liaison Service was subordinated to the STD as its major combat arm. Like SOG, the STD also had aircraft under its nominal control, including 219 Helicopter Squadron of the Vietnamese Air Force. By the late 1960s the size of the Liaison Service had increased tremendously. Task Forces 1, 2 and 3, commanded by lieutenant colonels and larger than a brigade, were directly analogous to MACVSOG's Command and Control North, Central and South. Each Task Force was broken into a Headquarters, a Security Company, a Reconnaissance Company of ten teams, and two Mobile Launch Sites with contingents of South Vietnamese Army and paramilitary forces under temporary Liaison Service control. Although the Liaison Service was a South Vietnamese unit, all of its operations were funded, planned and controlled by MACVSOG, and recon teams integrated both MACVSOG and Liaison Service personnel.
In December 1970, in accordance with the 'Vietnamization' policy, all CIDG border camps were turned over to the South Vietnamese government and CIDG units were incorporated into the ARVN as Biet Dong Quan, or Ranger, border battalions. No longer needed as a CIDG training force, the LLDB was dissolved in the same month. Officers above captain were sent to the Biet Dong Quan; the best of the remaining officers and men were selected for a new STD unit, the Special Mission Service. At the same time 81 Airborne Ranger Battalion was expanded into 81 Airborne Ranger Group consisting of one Headquarters Company, one Recon Company and seven Exploitation Companies. The Group was put under the direct control of the JGS as a general reserve force.
During 1970 the Liaison Service had staged numerous cross border missions into Cambodia in support of major external sweeps by the US and South Vietnamese forces against Communist sanctuaries. Early the following year the Service sent three recon teams into the 'Laotian Panhandle' two weeks before the ARVN's February Lam Son 719 incursion.
In February 1971 the STD underwent major reorganization in accordance with Vietnamization and its anticipated increase in special operations responsibilities. Headquartered in Saigon, STD command was given to Col. Doan Van Nu, an ARVN airborne officer and former military attache to Taiwan. As STD commander, and a non voting member of the South Vietnamese National Security Council, Nu took orders only from President Nguyen Van Thieu and the Chief of the Armed Forces of the Republic of Vietnam JGS.
The expanded STD consisted of a headquarters, a training center, three support services and six combat services. The training center was located at Camp Yen The in Long Thanh: Yen The, significantly, was the name of a resistance movement in northern Vietnam during the 11th century. Airborne instruction was conducted at the ARVN Airborne Division's Camp Ap Don at Tan Son Nhut. The three support services were Administration & Logistics; Operations & Intelligence; and Psychological Warfare, which ran the 'Vietnam Motherland', 'Voice of Liberty', and 'Patriotic Front of the Sacred Sword' clandestine radio stations. The combat services were the Liaison Service (Loi Ho), the Special Mission Service (Hac Long), Group 11, Group 68, The Air Support Service and the Coastal Security Service.
The Liaison Service (So lien Lac), commanded by a colonel in Saigon, was composed of experienced Loi Ho recon commandos divided among Task Force I (Da Nang), Task Force 2 (Kontum) and Task Force 3 (Ban Me thuot).
The Special Mission Service (So Cong Tac), also commanded by a colonel, was headquartered at Camp Son Tra in Da Nang. It remained in training under US auspices from February 1971 until January 1972. Unlike the shorter duration raid and recon missions performed by the Liaison Service, the SMS was tasked with longer missions into North Vietnam and Laos. It was initially composed of Groups 71, 72 and 75, with the first two headquartered at separate camps at Da Nang. Group 75 was headquartered at Plei Ku in the former LLDB B Co. barracks, with one detachment at Kom Tum to provide a strike force for operations in Cambodia and inside South Vietnam.
Group 11, an airborne infiltration unit based at Da Nang, and Group 68, headquartered in Saigon with detachments at Kom Tum, was soon integrated under SMS command. Group 68 ran airborne trained rallier and agent units, including 'Earth Angels' (NVA ralliers) and 'Pike Hill' teams (Cambodian disguised as Khmer Communists). A typical Earth Angel operation took place on 15 December 1971, when a team was inserted by US aircraft on a reconnaissance mission into Mondolkiri Province, Cambodia. Pike Hill operations were focused in the same region, including a seven man POW recovery team dropped into Ba Kev, Cambodia, on 12 February 1971. Pike Hill operations even extended into Laos, e.g. the four man Pike Hill team parachuted onto the edge of the Bolovens Plateau on 28 December 1971, where it reported on enemy logistics traffic for almost two months. Pike Hill operations peaked in November 1972 when two teams were inserted by C-130 Blackbird aircraft flying at 250 feet north of Kompong Trach, Cambodia. Information from one of these teams resulted in 48 B-52 strikes within one day.
The STD's Air Support Service consisted of 219 'King Bee' Helicopter Squadron, the 114 Observation Sqn., and C-47 transportation elements. The King Bees, originally outfitted with aging H34s, were re-equipped with UH-1 Hueys in 1972. The C-47 fleet was augmented by two C-123 transports and one C-130 Blackbird in the same year. All were based at Nha Trang.
The Easter Offensive 1972
During the 1972 Easter Offensive the combat arms of the STD saw heavy action while performing recon and forward air guide operations. Meanwhile, 81 Airborne Ranger Group was tasked with reinforcing besieged An Loc. The Group was heli lifted into the southern edge of the city in April, and the Airborne Rangers walked north to form the first line of defense against the North Vietnamese. After a month of brutal fighting and heavy losses, the siege was lifted. A monument was later built by the people of An Loc in appreciation of the Group's sacrifices.
In October 1972, the SMS was given responsibility for the tactical footage between Hue and the Lao border. In early 1973 US advisors were withdrawn. The Air Support Service soon proved unable to make up for missing US logistical support, sharply reducing the number of STD external missions. STD personnel, as well as Lien Doan Nguoi Nhai SEALS, were increasingly pulled into President Thieu's Office for special assignments. Later in the year the Liaison Service's Task Force 1, 2 and 3 were redesignated Groups 1, 2 and 3; and Camp Yen The was renamed Camp Quyet Thang ('Must Win'.)
Following a brief respite in the wake of the 1973 Paris Peace Accords, the STD was back in action against encroaching NVA elements in the countryside. In September 1973 two Liaison Service Loi Ho recon teams were inserted by helicopter into Plei Djereng, a key garrison blocking the NVA infiltration corridor down the Western highlands. They were unsuccessful in rallying the defenders after an NVA attack, however. In late 1974 the NVA increased their pressure; especially hard hit was the provincial capital of Phuoc Long in Military Region 3. After several weeks of NVA tank, artillery and infantry attacks the Phuoc Long defense started to crack. In an effort to save the city the government ordered 81 Airborne Ranger Group to reinforce the southern perimeter. After two days of weather delays one company was heli lifted east of the city on the morning of 5 January 1975; and by early afternoon over 250 Airborne Rangers were in Phuoc Long. After a day of relentless NVA assaults most of the original garrison fled; contact was lost with the Airborne Rangers as the NVA began to overwhelm the city. Early the next day Aiborne Rangers stragglers were spotted north of the city. A four day search eventually retrieved some 50 percent survivors.
By March 1975 the NVA had increased pressure on the Central Highlands, prompting Saigon to begin a strategic redeployment from the western half of II Corps. Although the Liaison Service's Groups 2 and 3 provided security for the withdrawing masses the redeployment soon turned into a rout. In the hasty withdrawal Group 2 had forgotten two recon teams in Cambodia; these later walked the entire distance back to the Vietnamese coast. After the fall of the Central Highlands government forces in I Corps began to panic, sparking an exodus to the south. In the confusion Group I of the Liaison Service attempted to provide security for the sealift to Saigon. Meanwhile, the SMS boarded boats on 30 March for Vung Tau.
With the entire northern half of the country lost, Saigon attempted to regroup its forces. 81 Airborne Ranger Group, which had arrived from II Corps in a state of disarray, was refitted at Vung Tau. The Liaison Service was posted in Saigon, with Groups I and 3 reinforcing Bien Hoa and Group 2 protecting the fuel depots. The SMS also reformed in Saigon.
On 6 April 1975 SMS recon teams sent northeast and northwest of Phan Rang discovered elements of two North Vietnamese divisions massing on the city. An additional 100 SMS commandos were flown in as reinforcements, but were captured at the airport as the North Vietnamese overran Phan Rang. A second tak force of 40 Loi Ho commandos was infiltrated into Tay Ninh to attack an NVA command post; the force was intercepted and only two men escaped. By mid April 81 Airborne Ranger Group was put under the operational control of 18th Division and sent to Xuan Loc, where the unit was smashed. The remnants were pulled back to defend Saigon. By the final days of April the NVA had surrounded the capital. Along with other high officials, the STD commander escaped by plane on 27 April. On the next day 500 SMS commandos and STD HQ personnel commandeered a barge and escaped into international waters. The remainder of the Liaison Service fought until capitulation on 30 April.
REPUBLIC OF VIETNAM
NAVAL SPECIAL FORCES
In 1960 the South Vietnamese Navy proposed the creation of an Underwater Demolitions Team to improve protection of ships, piers and bridges. Later in the year a navy contingent was sent to Taiwan for UDT training; the one officer and seven men who completed the course became the cadre for a Lien Doi Nguoi Nhai (LDNN), or Frogman Unit, formally established in July 1961. The LDNN, with a proposed strength of 48 officers and men, was given the mission of salvage, obstacle removal, pier protection and special amphibious operations.
Soon after the creation of the LDNN a second unit was formed: Biet Hai, or 'Special Sea Force', paramilitary commandos under the operational control of Diem's Presidential Liaison Office and given responsibility for amphibious operations against North Vietnam. US Navy SEAL (Sea, Air and Land) commando teams began deploying to South Vietnam in February 1962 and initiated in March a six month course for the first Biet Hai cadre in airborne, reconnaissance and guerrilla warfare training. By October, 62 men had graduated from the first cycle. A planned second contingent was denied funding.
In early 1964 the LDNN, numbering only one officer and 41 men, began special operations against VC seabome infiltration attempts. Six Communist junks were destroyed by the LDNN at Ilo Ilo Island in January during Operation 'Sea Dog'. During the following month the LDNN began to be used against North Vietnamese targets as part of Operation Plan 34A, a covert action program designed to pressure the Ha Noi regime.
In February a team unsuccessfully attempted to sabotage a North Vietnamese ferry on Cape Ron and Swatow patrol craft at Quang Khe. Missions to destroy the Route I bridges below the 18th Parallel were twice aborted. In March most of the LDNN was transferred to Da Nang and colocated with the remaining Biet Hai conunandos. During May North Vietnam operations resumed by LDNN teams working with newly trained Biet Hai boat crews. On 27 May they scored their first success with the capture of a North Vietnamese junk. On 30 June a team landed on the North Vietnamese coast near a reservoir pump house. Ile team was discovered and a hand to hand fight ensued; two LDNN commandos lost their lives and three 57mm recoiless rifles were abandoned, but 22 North Vietnamese were killed and the pump house was destroyed.
In July a second class of 60 LDNN candidates was selected and began training in Nha Trang during September. Training lasted 16 weeks, and included a 'Hell Week' in which students were required to paddle a boat 115 miles, run 75 miles, carry a boat for 21 miles and swim 10 miles. During the training cycle team members salvaged a sunken landing craft at Nha Trang and a downed aircraft in Binh Duong Province. Thirty-three men completed the course in January 1965 and were based at Vung Tau under the direct control of the Vietnamese Deputy Chief of Naval Operations (Operations).
In 1965 the LDNN was given responsibility for amphibious special operations in South Vietnam. Maritime operations against North Vietnam were given exclusively to the Da Nang based Biet Hai commandos and Hai Tuan boat crews, both incorporated into the new seaborne component of the STD, the So Phong Ve Duyen Hai (Coastal Security Service or CSS). The CSS, a joint services unit, was headed by an Army lieutenant colonel until 1966, then by a Navy commander. CSS missions focused almost entirely on short duration sabotage operations lasting one night, and had a high success rate. The CSS relied heavily on special operations teams temporarily seconded from other services. Teams on loan from the Vietnamese Navy considered most effective, were codenamed 'Vega'. Other teams came from the Vietnamese Marine Corps ('Romulus') and Army ('Nimbus'). The CSS also controlled 40 civilian agents ('Cumulus') until the mid 1960s. Unofficialy, the term Biet Hai was used for all CSS forces, regardless of original service affiliation. CSS training was conducted at Da Nang under the auspices of US Navy SEAL, US Marine, and Vietnamese advisors. Further support was provided by the CSS's Da Nang based US counterpart, the Naval Advisory Detachment, a component of MACVSOG.
By the mid 1960s US Navy SEAL teams were being rotated regularly through South Vietnam on combat tours. Specialists in raids, amphibious reconnaissance and neutralization operations against the VC infrastructure, the SEALs worked closely with the LDNN and began qualifying Vietnamese personnel in basic SEAL tactics. In November 1966 a small cadre of LDNN were brought to Subic Bay in the Philippines for more intensive SEAL training.
In 1967 a third LDNN class numbering over 400 were selected for SEAL training at Vung Tau. Only 27 students finished the one year course and were kept as a separate Hai Kich ('Special Sea Unit,' the Vietnamese term for SEAL) unit within the LDNN. Shortly after their graduation the Communists launched the Tet Offensive most of the LDNN SEALs were moved to Cam Ranh Bay, where a fourth LDNN class began training during 1968. During the year the Vietnamese SEALs operated closely with the US Navy SEALS. The LDNN SEAL Team maintained its focus on operations within South Vietnam, although some missions did extend into Cambodia. Some missions used parachute infiltration.
LDNN after Tet
In 1971, in accordance with increased operational responsibilities under the Vietnamization program, the LDNN was expanded to the Lien Doan Nguoi Nhai (LDNN), or Frogman Group, comprising a SEAL Team, Underwater Demolitions Team, Explosive Ordnance Disposal Team and Boat Support Team. Headquarters remained in Saigon. For the remainder of 1971 the SEALs operated in 12 18-man detachments on neutralization operations and raids inside South Vietnam. SEAL launch sites included Ho Anh, north of Da Nang, Hue and Tinh An.
During the 1972 Easter Offensive the SEALs were transferred to Hue to conduct operations against NVA forces holding Quang Tri; after Quang Tri was retaken some of the SEALs went to Quang Ngai to resume VC neutralization operations. After US Navy SEAL advisors were withdrawn in late 1972 the LDNN SEAL Team, now 200 strong, took over training facilities at Cam Ranh Bay; training, however, was cut in half, with only one fifth given airborne training. The SEALs had been augmented by ten graduates out of 21 LDNN officer candidates sent to the US for SEAL training in 1971.
When the Vietnam ceasefire went into effect in 1973 the SEALs returned to LDNN Headquarters in Saigon. At the same time the CSS was dissolved, with the Navy contingent given the option of transferring to the LDNN.
In late December 1973 the government reiterated its territorial claim to the Paracel Island chain off its coast and dispatched a small garrison of militia to occupy the islands. By early January 1974 the Chinese, who also claimed the islands, had sent a naval task force to retake.the Paracels. On 17 January 30 LDNN SEALs were infiltrated on to the western shores of one of the major islands to confront a Chinese landing party. The Chinese had already departed; but two days later, after SEALs landed on a nearby island, Chinese forces attacked with gunboats and naval infantry. Two SEALs died and the rest were taken prisoner and later repatriated.
During the final days of South Vietnam a 50 man SEAL detachment was sent to Long An; the remainder were kept at LDNN Headquarters in Saigon along with 200 new SEAL trainees. During the early evening of 29 April all SEAL dependents boarded LDNN UDT boats and left Saigon; a few hours later the SEALs departed the capital, linked up with the UDT boats, and were picked up by the US 7th Fleet in international waters.
By Ken Conboy